Những nguyên tắc chia thừa kế

Thừa kế từ lâu đã là một vấn đề được rất nhiều người quan tâm. Tuy nhiên, vì nhiều lí do, hiện nay chủ để này vẫn còn khá tế nhị và nhiều người còn thiếu kiến thức. Chiathuake.com xin hân hạnh giới thiệu những nguyên tắc cơ bản để chia thừa kế để hỗ trợ bạn đọc khi cần

Căn cứ

  • Bộ luật dân sự 2015
  • Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014
Nội dung tư vấn
Thừa kế có thể được hiểu đơn giản là việc người mất để lại tài sản cho người còn sống. Và đương nhiên, việc chia thừa kế phải tuân thủ theo những nguyên tắc chia thừa kế nhất định. Cụ thể như sau:

1. Tài sản chia thừa kế phải của người đã khuất

Điều 612. Di sản
Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác
Chỉ có tài sản thuộc chính chủ thì mới có thể đem chia thừa kế. Phần tài sản của người đó trong khối tài sản chung cũng được đem chia thừa kế. Theo đó, di sản thừa kế bao gồm những tài sản sau:
  • Tài sản riêng của người chết: Đây là phần tài sản mà thông thường cá nhân nào cũng có, bởi nó gắn liền với quyền và nghĩa vụ lao động của mỗi cá nhân trong xã hội. Tài sản riêng của người chết được xác định là phần tài sản mà  về  phương diện pháp lí không bị chi phối hoặc phải chịu sự ràng buộc nào đối với các chủ thể khác trong việc chiếm hữu, sử dụng và thực hiện quyền định đoạt. Theo quy định của pháp luật, phần tài sản này được xác định như sau:
    • Độc lập trong sở hữu chung theo phần.
    • Độc lập trong sở hữu chung hợp nhất
  • Tài sản của người chết trong khối tài sản chung hợp nhất của vợ chồng. Tài sản chung của vợ chồng bao gồm:
    • Tài sản do vợ, chồng tạo ra;
    • Thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh;
    • Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng;
    • Thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân;
    • Tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.
    • Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.
    • Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.
    • Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.

Khi một bên chết trước và có yêu cầu chia di sản thừa kế, khối tài sản chung này được chia một nửa thuộc sở hữu của người đang sống, người còn lại được xác định là di sản của người đã chết.

  • Tài sản của người chết trong khối tài sản chung với người khác.

2. Nguyên tắc và phương thức chia thừa kế

Có hai phương thức chia thừa kế đó là thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật

2.1 Thừa kế theo di chúc

Nội dung cơ bản của thừa kế theo di chúc là chỉ định người thừa kế và phân định tài sản, quyền tài sản và giao nghĩa vụ tài sản cho những người thừa kế. Người lập di chúc là cá nhân có đầy đủ năng lực hành vi dân sự. Người nhận di sản thừa kế là những người được chỉ định trong di chúc, có quyền nhận di sản do người chết để lại theo sự định đoạt trong di chúc. Người thừa kế theo di chúc có thể là người trong hàng thừa kế, ngoài hàng thừa kế hoặc cơ quan, tổ chức kể cả Nhà nước.
Di chúc, đơn giản là muốn cho ai cũng được, kể cả người xa lạ. Tuy nhiên, có những người nghiễm nhiên được hưởng thừa kế mà không phụ thuộc vào nội dung di chúc:
Điều 644. Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc
1. Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó:
a) Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;
b) Con thành niên mà không có khả năng lao động.
2. Quy định tại khoản 1 Điều này không áp dụng đối với người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 620 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 621 của Bộ luật này.
Pháp luật quy định như vậy để đảm bảo quyền lợi của những người trên, và bảo đảm nghĩa vụ chăm sóc người thân của người đã khuất. Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc có quyền đòi chia đủ 2/3 suất của một người thừa kế theo pháp luật. Vì thế, có thể ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người thừa kế khác cũng như người khác (không phải người thừa kế) được hưởng di sản thông qua sự định đoạt của người lập di chúc.

2.2. Thừa kế theo pháp luật

Điều 649. Thừa kế theo pháp luật
Thừa kế theo pháp luật là thừa kế theo hàng thừa kế, điều kiện và trình tự thừa kế do pháp luật quy định.
Thừa kế theo pháp luật chỉ áp dụng khi không có di chúc, di chúc không có hiệu lực hoặc di chúc không đầy đủ. Pháp luật luôn tôn trọng mong muốn của người đã khuất.Thừa kế theo pháp luật sẽ được thực hiện theo hàng thừa kế
Điều 651. Người thừa kế theo pháp luật
1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:
a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;
b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;
c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.
2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.
3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.
Hàng thừa kế theo pháp luật được hiểu là nhóm người trong một hàng có quan hệ cùng mức độ gần gũi với người để lại di sản thừa kế. Khi xác định hàng thừa kế, áp dụng nguyên tắc không phân biệt giới tính và và nguyên tắc không phân biệt đối xử tùy theo tình trạng pháp lí, theo đó điều luật trên đã quy định ba hàng thừa kế:
  • Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết. Ở  hàng thừa kế này có hai mối quan hệ giữa những người thừa kế của nhau như sau:
    • Quan hệ thừa kế giữa vợ và chồng:
      • Trong trường hợp vợ, chồng đã chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân mà sau đó một người chết thì người còn sống vẫn được hưởng thừa kế di sản.
      • Trong trường hợp vợ, chồng xin ly hôn mà chưa được hoặc đã được Tòa án cho ly hôn bằng bản án hoặc quyết định chưa có hiệu lực pháp luật, nếu một người chết thì người còn sống vẫn được hưởng di sản thừa kế.
      • Người đang là vợ hoặc chồng của một người tại thời điểm người đó chết thì dù sau đó đã kết hôn với người khác vẫn được thừa kế di sản.
    • Quan hệ thừa kế giữa cha mẹ  và các con.

Một người sinh ra bao nhiêu người con thì các con là đều là con đẻ của người đó. Vì thế, bất luận là con chung hay con riêng thì họ cũng đều là những trường hợp thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người sinh ra họ. Ngược lại, cha mẹ của người con chung hoặc của người con riêng đều là người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của con mình. Đồng thời một người đã nhận người khác làm con nuôi của mình theo quy định của pháp luật sẽ trở thành cha nuôi, mẹ nuôi của người con nuôi đó. Theo đó, họ là người thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người con nuôi và đương nhiên, con nuôi là người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cha mẹ nuôi mình. Trong trường hợp cha dượng mẹ kế chăm sóc và nuôi dưỡng các con như con ruột của mình, thì cha dượng mẹ kế được xác định là người thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất để hưởng di sản của người con đó. Khi con riêng chăm sóc, quan tâm, nuôi dưỡng cha dượng, mẹ kế như cha mẹ đẻ của mình, thì người con riêng được xác định là người thừa kế ở hàng thừa kế thứ nhất để hưởng di sản của người cha dượng hoặc mẹ kế đó.

  • Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại. Hàng thừa kế này có hai mối quan hệ, cụ thể như sau:
    • Quan hệ thừa kế giữa ông bà với cháu: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, là người thừa kế ở hàng thừa kế thứ hai của cháu nội, cháu ngoại của mình. Ngược lại, các cháu nội cháu ngoại cũng là người thừa kế ở hàng thừa kế thứ hai của ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại của mình. Tuy nhiên, cần lưu ý, các cháu chỉ được hưởng thừa kế ở hàng thừa kế thứ hai của ông bà trong trường hợp bố mẹ của họ không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc bản thân cha mẹ họ từ chối quyền hưởng di sản ở hàng thừa kế thứ nhất mà không còn ai hưởng thừa kế ở hàng này.
    • Quan hệ giữa anh chị em ruột với nhau: Anh chị em ruột là những người cùng cha cùng mẹ; cùng mẹ khác cha hoặc cùng cha khác mẹ. Họ là những người có quyền hưởng di sản thừa kế của nhau ở hàng thứ hai.
  • Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.
Di sản sẽ được chia đều cho những người ở cùng hàng. Người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế nếu không ai ai ở hàng trước nhận thừa kế

3. Thừa kế thế vị

Điều 652. Thừa kế thế vị
Trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống.
Thừa kế thế vị là việc các con (cháu, chắt) được thay thế vào vị trí của bố hoặc mẹ (ông, bà) để hưởng di sản của ông, bà (hoặc cụ). Những người thừa kế thế vị được hưởng phần di sản mà bố mẹ mình (ông hoặc bà) đáng lẽ được hưởng nếu còn sống, được chia đều di sản với những người thừa kế khác. Trong quan hệ thừa kế thế vị, di sản được dịch chuyển từ người để lại di sản đến người thụ hưởng trải qua bốn thế hệ, từ các cụ đến chắt. Đơn giản là, người trước không còn thì người sau thay chỗ. Con vẫn sẽ được hưởng phần của mình thay cho bố mẹ.

Chiathuake.com là Website trực thuộc của Công ty Luật TNHH LSX (Luật sư X) – là đơn vị cung cấp dịch vụ luật sư thừa kế chuyên nghiệp tại Việt Nam. Vì vậy, hãy liên hệ tới số điện thoại 0969.434.434 khi Quý khách có nhu cầu về dịch vụ.

 

 

Từ khóa: ,