Thừa kế theo di chúc là gì?

Thừa kế là một chế định pháp luật dân sự đã xuất hiện ngay trong thời kỳ sơ khai của xã hội loài người. Vào thời kỳ này, việc thừa kế được tiến hành dựa trên những quy định về quan hệ huyết thống, những phong tục, tập quán riêng của những đơn vị dân cư thời kỳ đó. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển kinh tế – xã hội mà pháp luật về thừa kế ở Việt Nam cũng có những thay đổi theo hướng ngày càng mở rộng và có sự phụ thuộc vào thành quả phát triển của  xã hội. Theo quy định của pháp luật Việt Nam, người thừa kế được hưởng di sản từ thừa kế theo pháp luật hoặc thừa kế theo di chúc. Như vậy, thừa kế theo di chúc là một trong những hình thức thừa kế được pháp luật quy định. Vậy thừa kế theo di chúc là gì? Hãy cùng Chia thừa kế tìm hiểu trong bài viết dưới đây nhé:

Căn cứ pháp lý

  • Bộ luật Dân sự 2015

Nội dung tư vấn

1. Thừa kế là gì?

Như một sự tất yếu khách quan, con người sinh ra, tồn tại cần những giá trị vật chất để đáp ứng những nhu cầu tối thiểu đến cao hơn của mình. Để đáp ứng nhu cầu đó, đòi hỏi con người phải lao động để tạo ra của cải vật chất cho mình cũng như cho xã hội. Nếu tài sản mang sự tồn tại bền vững, có chăng chỉ là sự biến đổi từ dạng này sang dạng khác, thì với con người điều đó là không thể. Khi chết đi, con người không thể mang theo của cải vật chất đã tạo lập được. Do vậy, việc “xử lý” tài sản của người chết là một yêu cầu khách quan của xã hội. Vấn đề này được xác định là “thừa kế”.

Theo nghĩa rộng, thừa kế là một chế định pháp luật dân sự, là tổng hợp các quy định của pháp luật điểu chỉnh việc chuyển dịch tài sản của người chết cho người khác theo di chúc hoặc theo quy định của pháp luật, đồng thời quy định phạm vi quyền, nghĩa vụ và phương thức bảo vệ các quyền và nghĩa vụ của người thừa kế.

Theo nghĩa hẹp, thừa kế được hiểu chung nhất là việc chuyển dịch tài sản thuộc sở hữu của người chết cho người còn sống nếu thỏa mãn đủ điều kiện của pháp luật.

2. Di chúc là gì?

Điều 624 Bộ luật Dân sự 2015 đưa ra định nghĩa thế nào là di chúc:

“Điều 624: Di chúc

Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết”.

Căn cứ theo quy định này thì di chúc phải có các yếu tố sau:

Thứ nhất, đó là sự thể hiện ý chí của cá nhân mà không phải của bất cứ chủ thể nào khác. Sự thể hiện ý chí của người lập di chúc (chủ sở hữu tài sản) muốn chuyển quyền sở hữu tài sản của mình cho chủ thể nào sau khi mình chết hoàn toàn xuất phát từ chính mong muốn, nguyện vọng của cá nhân đó mà không bị tác động từ bất kỳ cá nhân, tổ chức nào.

Thứ hai, mục đích của việc lập di chúc là chuyển quyền sở hữu tài sản của người lập di chúc cho người khác.

Thứ ba, di chúc chỉ có hiệu lực khi người lập di chúc chết. Di chúc là sự thể hiện ý chí của người lập di chúc muốn chuyển quyền sở hữu tài sản của mình cho người khác sau khi mình chết. Do vậy, di chúc chỉ phát sinh hiệu lực khi người lập di chúc chết hay bị Tòa án tuyên bố chết, di chúc hoàn toàn không có hiệu lực khi người lập di chúc còn sống, kể cả khi người này bị tuyên bố mất tích.

Từ quy định trên của pháp luật, ta cũng có thể kết luận rằng di chúc là một giao dịch dân sự. Bởi di chúc là hành vi pháp lý đơn phương của người lập di chúc, thể hiện ý chỉ chủ quan của này muốn chuyển giao quyền sở hữu tài sản của mình cho chủ thể khác và đây là cơ sở làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ của người lập di chúc cũng như các chủ thể được người lập di chúc chuyển giao tài sản. Do đó, di chúc phải tuân thủ các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự nói chung và điều kiện có hiệu lực của di chúc nói riêng. Vì vậy, một người muốn định đoạt tài sản của mình bằng di chúc cần phải tuân thủ các quy định của pháp luật về thừa kế theo di chúc.

3. Thừa kế theo di chúc

Thừa kế theo di chúc là một trong hai hình thức thừa kế được pháp luật quy định. Nội dung này được hiểu theo cách khái quát nhất là việc dịch chuyển tài sản từ người sở hữu sang người khác sau khi người đó chết thông qua di chúc – hình thức thể hiện rõ nhất ý chí của người để lại tài sản, là sự chủ động của họ trong vấn đề thừa kế. Người khác được hưởng thừa kế ở đây có thể là cá nhân, nhóm cá nhân hoặc tổ chức nào đó.

Như vậy có thể hiểu thừa kế theo di chúc là việc chuyển tài sản của người đã chết cho những người thừa kế theo ý chí tự nguyện của người để lại di sản thể hiện trong di chúc. Di chúc chính là tiền đề trong hình thức thừa kế này. Khi di chúc có đáp ứng đủ điều kiện theo pháp luật để có hiệu lực, người thừa kế căn cứ vào di chúc, tuân theo những lời dặn dò được ghi chép trong di chúc tiến hành những quy trình, thủ tục để có thể thừa hưởng những tài sản mà người chết để lại.

4. Những trường hợp thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc

Thừa kế theo di chúc thể hiện một cách trực tiếp, rõ ràng việc người lập di chúc muốn muốn để lại tài sản của mình cho ai, các chủ thể khác cũng như pháp luật không có sự “xen ngang” vào ý chí của người lập di chúc trừ trường hợp pháp luật Việt Nam hiện hành vẫn quy định diện được hưởng thừa kế mà không phụ thuộc vào nội dung di chúc. Cụ thể, theo Điều 644 Bộ luật Dân sự 2015 quy định:

Điều 644. Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc

1. Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó:

a) Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;

b) Con thành niên mà không có khả năng lao động.

2. Quy định tại khoản 1 Điều này không áp dụng đối với người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 620 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 621 của Bộ luật này”.

Pháp luật quy định người để lại di sản có quyền truất quyền hưởng di sản hoặc không cho những người thuộc diện thừa kế theo pháp luật hưởng di sản. Tuy nhiên, để bảo vệ lợi ích của một số người trong diện thừa kế theo pháp luật, phù hợp với phong tục, tập quán, truyền thống tốt đẹp của nhân dân ta, pháp luật đã “can thiệp” làm hạn chế quyền của người lập di chúc.

Theo quy định trên thì những người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc gồm:

  1. Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;
  2. Con thành niên mà không có khả năng lao động.

Những  người này phải được hưởng 2/3 của một suất thừa kế theo pháp luật nếu người để lại di sản không cho hưởng hoặc cho hưởng ít hơn 2/3 của một suất thừa kế theo pháp luật.

Cách tính hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật cho người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc được xác định như sau:

  • Nếu không có di chúc, thì một suất được chia theo pháp luật cho người thừa kế tại hàng thừa kế thứ nhất có quyền hưởng là bao nhiêu nhân với 2/3 của suất đó.
  • Những người sau đây không tính vào để nhân suất 2/3 của một suất thừa kế theo pháp luật: người không có quyền hưởng theo quy định tại khoản 1 Điều 621 Bộ luật Dân sự, người từ chối nhận di sản quy định tại Điều 620 Bộ luật Dân sự, người thừa kế theo pháp luật trong hàng thừa kế đã chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người để lại di sản mà không có trường hợp thừa kế thế vị.

Ví dụ 1: A là chồng của B, có hai người con là C và D (đã thành niên). A và C chết cùng thời điểm. A để lại di chúc truất quyền thừa kế của B và cho D toàn bộ di sản. Di sản của A có 90 triệu đồng. Chia thừa kế?

Theo quy định tại Điều 644 Bộ luật Dân sự 2015, thì B là một trong những người được hưởng di sản thừa kế mà không phụ thuộc vào nội dung di chúc. Do vậy, trong trường hợp này, mặc dù A (chồng của B) không để lại di sản của mình cho B thì B vẫn được hưởng 2/3 của một suất thừa kế theo pháp luật cho người thừa kế tại hàng thừa kế thứ nhất.

Hàng thừa kế thứ nhất gồm: B (vợ A) và D (con A). Như vậy, nếu chia thừa kế theo pháp luật thì B và D sẽ được hưởng di sản là ngang nhau và bằng 90 triệu đồng/2 = 45 triệu đồng.

Khi đó, số di sản mà B được thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc sẽ là: 2/3 x 45 triệu đồng = 30 triệu đồng.

Vậy, số di sản mà D được hưởng là: 90 triệu đồng – 30 triệu đồng = 60 triệu đồng.

Kết luận: B sẽ được hưởng 30 triệu đồng; D sẽ được hưởng 60 triệu đồng từ di sản của A.

Ví dụ 2: Cũng như ví dụ trên, nhưng C lại có con là E, thì khi đó di sản thừa kế sẽ được chia như sau: B cũng vẫn sẽ được hưởng 2/3 của một suất thừa kế theo pháp luật. Nhưng trong trường hợp này hàng thừa kế thứ nhất bao gồm: B, D và E (thừa kế thế vị cho bố của mình là C). Khi đó, theo di chúc thì B sẽ được hưởng 2/3 x (90 triệu đồng : 3) = 20 triệu đồng và D sẽ được 90 triệu đồng – 20 triệu đồng = 70 triệu đồng.

Thừa kế theo di chúc, tựu chung lại chính là quá trình chuyển dịch tài sản từ người sở hữu sang những chủ thể khác mà người đó mong muốn sau khi chết thông qua di chúc. Hình thức thừa kế này đã và đang tồn tại trong đời sống xã hội. Việc tôn trọng ý chí riêng tư của người lập di chúc vừa đảm bảo tính khách quan, dân chủ vừa thể hiện sự thượng tôn pháp luật.

Trên đây là nội dung tư vấn của chúng tôi. Hi vọng bài viết hữu ích đối với bạn!

Chiathuake.com là Website trực thuộc của Công ty Luật TNHH LSX (Luật sư X) – là đơn vị cung cấp dịch vụ luật sư thừa kế chuyên nghiệp tại Việt Nam. Vì vậy, hãy liên hệ tới số điện thoại 0969.434.434  khi Quý khách có nhu cầu về dịch vụ!

 

 

Từ khóa: , ,