99 Bài tập thừa kế thường gặp phải

Tình huống 1.
Ông A kết hôn với bà B và có hai người con chung là C sinh năm 1976 và D sinh năm 1980. C bị tâm thần từ nhỏ, D có vợ là E và có con là F,G,H. Vợ chồng D không có tài sản gì và sống nhờ nhà của ông bà A – B. Năm 2015, bà B lập di chúc để lại cho D 1/3 tài sản của bà. Tháng 10/2016, D chết. Tháng 01/2017, bà B chết.
Chia di sản của bà B biết rằng, căn nhà là tài sản chung của ông A, bà B trị giá 1 tỷ đồng. Biết rằng, mẹ bà B là cụ G còn sống.
Gợi ý trả lời
Di sản của Bà B là 500 triệu (trong khối tài chung với ông A). Năm 2015, B lập di chúc để lại cho D 1/3 di sản của bà.
Do D chết (tháng 10/2016) trước bà B (tháng 1/2017) nên di chúc bà B để lại cho D hưởng 1/3 di sản của bà không có hiệu lực (điểm a, khoản 2 điều 643 BLDS 2015).
Khi đó, di sản bà B để lại được chia theo pháp luật (điều 650 BLDS 2015). Khi đó, cụ G (mẹ bà B), ông A (chồng), C (con), D (con bà B nhưng đã chết nên F+G+H được hưởng thừa kế thế vị của D theo điều 652 BLDS 2015) được hưởng thừa kế theo pháp luật của bà B (theo điều 651 BLDS 2015).

Tình huống 2.
Ông A, bà B kết hôn với nhau và có hai người con chung là C, D. Năm 2004, ông A bỏ nhà chung sống với bà H như vợ chồng và có con chung là E sinh năm 2005 và F sinh năm 2007. Năm 2016, ông A viết di chúc chia cho bà B ½ di sản, bà H ¼ di sản. Năm 2017, ông A chết. Tài sản chung giữa A và B là 200 triệu, ông A và bà H có tài sản chung là 600 triệu. Hãy chia di sản của ông A.
Gợi ý trả lời
Di sản ông A để lại là: 300 triệu (trong tài sản chung với bà H) + 200 triệu (tài sản chung với bà B : 2 = 250 triệu (ông A = bà B = 250 triệu). Vì: Phần tài sản chung với bà H (nếu không chứng minh được phần mà A, H sở hữu là bao nhiêu thì chia đôi) là 300 triệu. Đây là tài sản hình thành trong thời kỳ hôn nhân của ông A với bà B (nếu không chứng minh được là tài sản riêng của ông A) thì là tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân của ông A, bà B.
Giả sử, di chúc ông A để lại là hợp pháp thì bà B ½ di sản (=125 triệu), bà H ¼ di sản (=62,5 triệu); phần còn lại sẽ được chia theo pháp luật (B,C,D,E,F). Lưu ý, E (sinh năm 2005), F (sinh năm 2007) là con chưa thành niên của ông A – người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc) nên phải đảm bảo được hưởng ít nhất 2/3 suất thừa kế theo pháp luật.
Phần di sản không được định đoạt trong di chúc (62,5 triệu còn lại) được chia theo pháp luật. Nếu không đảm bảo cho E,F được hưởng ít nhất 2/3 suất thừa kế theo pháp luật thì sẽ được lấy theo tỷ lệ từ phần mà B, H được hưởng theo di chúc để đảm bảo cho E,F được hưởng ít nhất 2/3 suất thừa kế theo pháp luật (theo điều 644 BLDS 2015).

Tình huống 3.
Ông A có khối tài sản riêng trị giá 3,6 tỷ đồng. Ông A làm di chúc chia cho bà B (vợ ông) và 3 con là C,D,E mỗi người 400 triệu; còn lại 2 tỷ đồng để cho Hội chữ thập đỏ. Năm 2017, ông A chết chia di sản của ông A.
Chia di sản của ông A. Biết, ông A và bà B không có tài sản chung nào.
Gợi ý trả lời
A có tài sản là 3,6 tỷ đồng. Năm 2017, A chết để lại di chúc cho B (vợ) = C = D = E = 400 triệu đồng; phần còn lại 2 tỷ đồng được dùng để quyên góp.
B được A để lại di chúc cho hưởng 400 triệu di sản; nhưng 400 triệu chưa đủ 2/3 suất thừa kế theo pháp luật (điều 644 BLDS) vì B (vợ A) phải được hưởng ít nhất 2/3 suất thừa kế theo pháp luật (là 600 triệu). Phần còn lại sẽ được thực hiện theo di chúc.

Tình huống 4.
Ông Quảng có một người con duy nhất là ông Đại, ông Đại có vợ là bà Tiểu. Hai người có với nhau được ba người con là anh Hảo, 34 tuổi, bị bệnh down; anh Hiều 28 tuổi và anh Hạo 9 tuổi. Anh Hiều có vợ là chị Xiếu và có được một người con gái 2 tuổi là Hiền. Ngày 24/01/2010 ông Đại lập di chúc chia cho anh Hảo 1 tỷ 200 triệu đồng và cho anh Hiều 800 triệu đồng. Ngày 28.07.2010 anh Hiều chết vì bị tai nạn giao thông. Một năm sau ngày anh Hiều chết thì ông Đại cũng qua đời vì bệnh ung thư. Anh chị hãy phân chi di sản của ông Đại. Biết rằng di sản ông Đại để lại là 4 tỷ đồng tiền mặt và di chúc mà ông Đại lập đủ điều kiện đối với người lập di chúc, đúng hình thức và hợp pháp.
Gợi ý trả lời
Di sản ông Đại để lại là 4 tỷ đồng.
Ông Đại chết để lại di chúc cho anh Hảo: 1 tỷ 200 triệu, anh Hiều: 800 triệu. Tuy nhiên do anh Hiều chết trước ông Đại nên phần di chúc ông Đại để lại di sản cho anh Hiều không có hiệu lực (điều 667 BLDS 2005).
Khi đó, phần di sản của ông Đại không được định đoạt, không có hiệu lực trong di chúc là 2 tỷ 800 triệu đồng; phần di sản này được chia theo pháp luật. Những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất (theo điều 676 BLDS 2005) của ông Đại gồm: cụ Quảng, bà Tiểu, anh Hảo, anh Hạo, anh Hiều (anh Hiều đã chết nên cháu Hiền – con anh Hiều sẽ được thừa kế thế vị (điều 677 BLDS 2005)). Theo đó, mỗi người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Đại sẽ được hưởng mỗi người 560 triệu đồng.
Trong trường hợp này, khi phần di sản của ông Đại không được định đoạt trong di chúc và phần di chúc không có hiệu lực được chia theo pháp luật thì cụ Quảng (bố ông Đại), bà Tiểu (vợ ông Đại), anh Hạo (con ông Đại – chưa thành niên) vẫn đảm bảo được hưởng 2/3 suất thừa kế nếu toàn bộ di sản ông Đại để lại được chia theo pháp luật (4 tỷ : 5) và anh Hảo – con ông Đại đã thành niên, bị bệnh down không có khả năng lao động được hưởng thừa kế theo di chúc và được hưởng lớn hơn 2/3 của một suất thừa kế nếu toàn bộ di sản ông Đại để lại được chia theo pháp luật nên không thuộc trường hợp quy định tại điều 669 BLDS 2005.

Tình huống 5.
Vợ chồng A và B có 2 con chung là C và D. C có vợ là H và có 2 con chung là E và F. A và C chết cùng thời điểm. Di sản của A là 720 triệu.
Trường hơp 1: chia di sản của A cho những người có quyền thừa kế
Trường hợp 2: A để lại di chúc truất quyền thừa kế của B,C,D và cho K hưởng 2/3 di sản, 1/3 di tặng cho M. Bà B khởi kiện lên tòa xin thừa kế di sản của A. Hãy chia di sản của A cho người có quyền thừa kế.
Gợi ý trả lời
Di sản ông A để lại là 720 triệu đồng.
Trường hợp 1: Chia thừa kế cho những người có quyền thừa kế được thực hiện theo pháp luật.
A chết không để lại di chúc, khi đó di sản A để lại sẽ được chia theo pháp luật. Hàng thừa kế thứ nhất gồm: B (vợ), D, C (C chết thì con của C là E + F sẽ được hưởng thừa kế thế vị của C – theo điều 652 BLDS 2015) (điều 651 BLDS 2015). Theo đó di sản của A sẽ được chia làm ba phần B = D = E+F = 240 triệu.Trường hợp 2: Nếu di chúc của A để lại là hợp pháp, thì sẽ có hiệu lực (K được 2/3 di sản=480 triệu; M được 1/3 di sản = 240 triệu). Tuy nhiên, nếu bà B không phải là người không có quyền hưởng di sản (theo quy định tại khoản 1 điều 621 BLDS 2015) thì bà B là đối tượng được hưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc theo điều 644 BLDS 2015. Theo đó, bà B là người được hưởng 2/3 suất thừa kế theo pháp luật, nếu di sản được chia theo pháp luật.
Khi đó, để bà B được hưởng 2/3 suất thừa kế (=160 triệu) thì sẽ được lấy ra từ phần của bà K được hưởng theo nội dung di chúc. Lưu ý, không lấy từ phần di tặng theo quy định tại khoản 3, điều 646 BLDS 2015.

Tình huống 6.
Sơn và Hà là vợ chồng có tài sản chung là 1,8 tỷ đồng. Họ có hai con là Hạnh(15 tuổi) và Phúc (20 tuổi). Vừa qua, Sơn và Hạnh đi xe bị tai nạn. Lúc hấp hối, Sơn có di chúc miệng trước nhiều người làm chứng là để lại toàn bộ tài sản cho Phúc và Hạnh. Sau khi để lại di chúc ông Sơn qua đời. Vài giờ sau Hạnh cũng không qua khỏi.
Hãy cho biết Hà sẽ được hưởng bao nhiêu từ di sản của hai bố con Sơn và Hạnh? Biết rằng Hạnh còn có tài sản trị giá 50 triệu do được bà ngoại tặng trước khi chết. (Lý giải vì sao?)
Gợi ý trả lời
Nếu di chúc ông Sơn để lại là hợp pháp (629, 630 BLDS 2015) và Hạnh được xác định là chết sau ông Sơn (619 BLDS 2015) thì Hạnh được hưởng thừa kế theo di chúc ông Sơn để lại.
Bà Hà là người được hưởng thừa kế ko phụ thuộc vào nội dung di chúc (644 BLDS 2015) nên được hưởng 2/3 suất thừa kế theo pháp luật.
Theo đó, bà Hà được hưởng 200 triệu từ di sản ông Sơn để lại (644 BLDS 2015) phần còn lại được thực hiện theo di chúc (Hạnh = Phúc = 350 triệu)
Nếu Hạnh chết không để lại di chúc thì di sản Hạnh để lại (350 triệu hưởng thừa kế từ ông Sơn + 50 triệu bà ngoại tặng cho) được chia theo pháp luật. Theo đó, bà Hà là người được hưởng thừa kế theo pháp luật của Hạnh (651 BLDS 2015)
Hà được hưởng: 200 tr (thừa kế theo điều 644 BLDS 2015) + 400 triệu của Hạnh (651 BLDS)

Tình huống 7.
Tháng 4 năm 2016, ông Nam đến phòng công chứng làm di chúc để định đoạt số tiền gửi tiết kiệm là 200 triệu đồng mà ông được hưởng thừa kế từ cha, mẹ ruột của ông. Theo di chúc, ông Nam để lại toàn bộ số tiền này cho Hoàng – 20 tuổi, là con của ông với vợ là bà Nguyệt. Phần căn nhà của vợ chồng ông Nam không được làm di chúc. Ngoài ra, ông Nam và bà Nguyệt còn có 1 người con là Hải (12 tuổi, vào thời điểm ông Nam chết), nhưng do nghi ngờ Hải không phải là con của mình nên trong di chúc ông Nam không nhắc đến Hải.
Hãy phân chia tài sản của ông Nam, giả sử tháng 2 năm 2017, ông Nam chết.
Gợi ý trả lời
Di sản ông Nam để lại là: 200 triệu + 1/2 giá trị căn nhà của ông Nam, bà Nguyệt.
Giả sử: Di chúc ông Nam để lại là hợp pháp thì Hoàng được hưởng 200 triệu.
½ giá trị căn nhà là di sản ông Nam để lại chưa được định đoạt nên sẽ được chia theo pháp luật (điều 650, 651 BLDS 2015). Những người được hưởng thừa kế theo pháp luật của ông Nam gồm: bà Nguyệt, Hoàng, Hải.
Khi chia theo pháp luật thừa kế phần di sản (căn nhà) được chia nếu bà Nguyệt, Hải không được hưởng ít nhất bằng 2/3 suất thừa kế theo pháp luật thì sẽ trích ra từ phần mà Hoàng được hưởng để đảm bảo cho Hải, bà Nguyệt được hưởng 2/3 suất thừa kế nếu di sản (toàn bộ di sản) được chia theo pháp luật.

Tình huống 8.
Ông A kết hôn với bà B, có 2 con là C và D. Khi D được 2 tuổi, ông A và bà B đã cho đi làm con nuôi gia đình ông X. Quá trình chung sống ông bà tạo dựng được tài sản chung trị giá 220 triệu. Năm 2008, bà B chết, ông A lo mai táng hết 20 triệu. Năm 2009, ông A kết hôn với bà M, sinh được 1 người con là N và cùng tạo lập khối tài sản chung trị giá 180 triệu. Năm 2016, ông A lập di chúc hợp pháp có nội dung “cho N hưởng 1/2 tài sản của ông A”. Năm 2017, ông A chết Sau đám tang ông A, chị C yêu cầu bà M cho mình hưởng thừa kế, Bà M không những không đồng ý mà còn tìm cách giết C. Rất may, sự việc được phát hiện kịp thời nên C chỉ bị thương nhẹ. Bà M bị toà án xử 3 năm tù giam
Anh/chị hãy giải quyết việc chia TK nói trên.
(Biết rằng: Cha mẹ ông A và bà B đều đã chết trước ông A và bà B.
Gợi ý trả lời
Năm 2008, bà B chết. Di sản bà B để lại là 110 triệu (1/2 khối tài sản chung với ông A). Sau khi trừ đi chi phí mai táng (điều 683 BLDS 2005), di sản bà B dùng để chia thừa kế là 90 triệu. Do bà B chết không để lại di chúc nên di sản bà để lại sẽ được chia theo pháp luật (điều 675 BLDS 2005). Theo đó, ông A, C, D là những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của bà B và mỗi người được hưởng thừa kế của bà B là 30 triệu (điều 676 BLDS 2005). Lưu ý: Thời hiệu thừa kế là 10 năm với động sản; 30 năm với bất động sản (điều 623 BLDS 2015)
Năm 2017 ông A chết để lại di chúc “cho N hưởng ½ tài sản của ông A”.
Di sản ông A để lại là: 110 triệu (trong khối tài sản chung với bà B) + 30 triệu (hưởng thừa kế của bà B) + 90 triệu (trong khối tài sản chung với bà M) = 230 triệu.
Theo di chúc, N được hưởng ½ di sản của ông A = 115 triệu. Còn 115 triệu không được ông A định đoạt trong di chúc sẽ được chia theo pháp luật (điều 650 BLDS 2005). Bà M đã bị kết án về hành vi đối với C – là người không được quyền hưởng di sản (điểm c, khoản 1 điều 621 BLDS 2015). Theo đó, 115 triệu được chia theo pháp luật cho C,D,N mỗi người một phần bằng nhau (38,3 triệu).

Tình huống 9.
Ông A, bà B có con chung là C, D (đều đã thành niên và có khả năng lao động). C có vợ là M có con X,Y. D có chồng là N có một con là K. Di sản của A là 900 triệu. Chia thừa kế trong các trường hợp riêng biệt sau:
1. C chết trước A. A di chúc hợp pháp để lại toàn bộ di sản cho X .
2. C chết trước A . D chết sau A (chưa kịp nhận di sản )
3. A chết cùng thời điểm với C. A di chúc để lại cho K ½ di sản

Gợi ý trả lời
Di sản ông A để lại là 900 triệu.
Trường hợp 1. C chết trước A. A di chúc để lại toàn bộ di sản cho X.
A làm di chúc để lại toàn bộ di sản cho X. Tuy nhiên, bà B (vợ ông A) là người được hưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc (Điều 644 BLDS 2015). Theo đó, bà B phải được hưởng ít nhất 2/3 suất thừa kế theo pháp luật (là 200 triệu). Theo đó, bà B sẽ được hưởng 200 triệu và phần còn lại sẽ được thực hiện theo nội dung di chúc (X được hưởng thừa kế của ông A là 700 triệu).
Trường hợp 2. C chết trước A, D chết sau A. A chết không để lại di chúc.
A chết không để lại di chúc thì di sản của A sẽ được chia theo pháp luật. Khi đó, bà B, D, C là những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của A (Điều 651 BLDS 2015) nên mỗi người sẽ được hưởng một phần di sản bằng nhau là 300 triệu.
Do C chết trước A nên con của C là X, Y sẽ được hưởng thừa kế thế vị của C (theo điều 652 BLDS 2015).
D chết sau A, nếu A để lại di chúc thì sẽ được thực hiện theo nội dung di chúc. Còn nếu A chết không để lại di chúc (hoặc phần tài sản mà D được nhận từ di sản của ông A không được định đoạt trong di chúc) thì di sản A để lại sẽ được chia theo pháp luật. Khi đó, bà B (mẹ D), anh N (chồng D), K (con D) sẽ được chia theo pháp luật mỗi người một phần bằng nhau.
Trường hợp 3. A chết cùng thời điểm với C. A di chúc để lại cho K ½ di sản.
Ông A chết cùng thời điểm với anh C nên ông A sẽ không được hưởng thừa kế từ di sản của anh C để lại (theo điều 619 BLDS 2015).
Ông A chết để lại di chúc cho K hưởng ½ di sản của ông. Theo đó, K được thừa kế 450 triệu của ông A. Phần di sản không được ông A định đoạt trong di chúc (450 triệu) được chia theo pháp luật (điều 650, 651 BLDS 2015).
Theo đó, phần di sản này sẽ được chia cho bà B = C = D = 150 triệu. Anh C đã chết nên con anh C là X, Y sẽ được hưởng thừa kế thế vị phần của anh C.
Khi chia thừa kế trong trường hợp này, bà B là người được hưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc (theo điều 644 BLDS 2015). Phần di sản không được ông A định đoạt trong di chúc khi chia theo pháp luật không đảm bảo cho bảo cho bà B được hưởng 2/3 suất thừa kế theo pháp luật nên phần thiếu (50 triệu) sẽ được lấy từ phần mà K được hưởng theo nội dung di chúc.

Tình huống 10.
A, B kết hôn năm 1950 có 4 con chung C,D,E,F. Vào năm 1957, A – T kết hôn có 3 con chung H,K,P. Năm 2017, A, C qua đời cùng thời điểm do tai nạn giao thông. Vào thời điểm C qua đời anh đã có vợ và 02 con G,N. Sau khi A qua đời để di chúc lại cho C ½ di sản, cho B,T mỗi người ¼ di sản. Sau khi A qua đời B kiện đến tòa xin được hưởng di sản của A. Tòa xác định tài sản chung A,B=720 tr , A,T= 960 tr. Chia thừa kế trong trường hợp trên ?

Gợi ý trả lời
Ông A mất năm 2017, di sản A để lại là 840 tr (trong đó: 360 tr trong khối tài sản chung với bà B + 480 tr trong khối tài sản chung với bà T). Do cuộc hôn nhân của ông A với bà B, ông A với bà T được xác lập trước thời điểm Luật hôn nhân gia đình năm 1959 có hiệu lực (13/01/1960 ở miền Bắc, 25/03/1977 ở miền Nam) nên việc có nhiều vợ, nhiều chồng không trái pháp luật (được coi là hợp pháp).
Ông A mất để lại di chúc cho C ½ di sản (=420 triệu); B,T mỗi người ¼ di sản (B=T= 210 triệu). Do C chết cùng thời điểm với A nên phần di chúc A để lại cho C không có hiệu lực pháp luật (điều 643, 619 BLDS 2015) và được chia theo pháp luật (điều 650 BLDS 2015). Theo đó, B, C, D, E, F, T, H, K, P là những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông A, mỗi người một phần bằng nhau là 52,5 triệu (C đã mất nên con của C là G, N là người được hưởng thừa kế thế vị của C (điều 652).
Ông A chết cùng thời điểm với C nên ông A không được hưởng thừa kế của C (điều 619 BLDS 2015). Nếu C chết không để lại di chúc thì di sản mà C để lại được chia theo pháp luật (điều 650, 651 BLDS 2015).

Tình huống 11.
Ông A, bà B kết hôn với nhau sinh được 3 người con là C,D,E. Năm 1990, anh E được cho làm con nuôi của ông G, bà H (vì ông G, bà H không có con). Ông G, bà H mất cùng thời điểm năm 2010 không để lại di chúc, di sản ông G, bà H để lại là căn nhà và diện tích đất trị giá 900 triệu . Năm 2013, anh E mất không để lại di chúc (E chưa có vợ, con). Hãy chia thừa kế với phần di sản là nhà, đất (trị giá 900 triệu). Biết: ông A mất năm 2004, bà B mất năm 2017 không để lại di chúc.
Gợi ý trả lời
Năm 2011, ông G, bà H mất không để lại di chúc, di sản ông bà để lại là nhà, đất trị giá 900 triệu được chia theo pháp luật. Theo đó, anh E là người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông G, bà H và được hưởng di sản mà ông G, bà H để lại (nhà, đất trị giá 900 triệu) theo điều 675, 676 BLDS 2005.
Anh E mất không để lại di chúc thì di sản anh E để lại được chia theo pháp luật. Theo đó, bà B thuộc hàng thừa kế thứ nhất của anh E và được hưởng phần di sản (nhà, đất trị giá 900 triệu) mà anh E để lại (điều 675, 676 BLDS 2005).
Năm 2017, bà B mất không để lại di chúc thì di sản bà B để lại được chia theo pháp luật (điều 650, 651 BLDS 2015). Theo đó, di sản bà B để lại được chia cho C, D là những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của bà B (phần nhà, đất trị giá 900 triệu mà bà B được hưởng thừa kế từ anh E được chia cho C, D mỗi người được hưởng một phần bằng nhau).

Tình huống 12.
Ông A kết hôn với bà B sinh ra 3 người con C, D, E. Năm 2000, anh C kết hôn với chị F có con là G,H; vào thời gian này 2 người tạo dựng được nhà, đất trị giá 800 triệu. Anh C vay với hình thức tín chấp 100 triệu .
Năm 2015, anh C chết không để lại di chúc.
Năm 2017, ông A chết để lại tài sản 1 tỷ 6 đồng. Ông có di chúc là cho anh C, D, E mỗi người 300 triệu.
Hãy chia thừa kế trong trường hợp trên.
Gợi ý trả lời:
Năm 2015, C chết, di sản mà C để lại là nhà, đất trị giá: (800tr : 2) – 100tr = 300tr (giả sử: 100 triệu vay tín chấp được C vay mà F không đồng ý, không biết..; nếu có căn cứ để chứng minh anh C dùng tài sản vay dưới hình thức tín chấp vào để phát triển kinh tế gia đình thì có thể đây sẽ được tính vào khoản nợ chung của vợ, chồng).
C chết không để lại di chúc, di sản chia theo pháp luật (Điểm a khoản 1 Điều 675 BLDS 2005). Những người thừa kế thứ nhất của C gồm: A, B, F, G, H (Điểm a khoản 1 Điều 676 BLDS).
Giá trị mỗi suất thừa kế trên tổng di sản: 300 tr : 5 = 60 triệu/suất (A, B, F,G,H mỗi người nhận được 60 triệu từ di sản của C).
Năm 2017, A chết, di sản mà A để lại trị giá: 1 tỷ 600 triệu + 60 triệu (thừa kế của C) = 1700 triệu
A chết, di chúc cho C, D mỗi người 300tr. Nhưng C chết trước A, nên C không được hưởng phần di sản mà A định đoạt trong di chúc, mà phần di sản đó sẽ được chia theo pháp luật (Điều 650 BLDS 2015).
Phần di sản còn lại của A: 1tỷ 660 triệu – 300tr = 1 tỷ 360 triệu
Phần di sản này chia theo pháp luật, những người thừa kế di sản của A theo pháp luật gồm: B, D, E, C (C đã chết nên con của C là G,H sẽ được hưởng thừa kế thế vị của C) (Điều 651,652 BLDS 2015).
Giá trị mỗi suất thừa kế trên tổng di sản: 1 tỷ 360 triệu : 4 = 340 triệu/suất
Hay B, D, E mỗi người nhận được 340 triệu từ di sản của A. Phần của C là 340 triệu sẽ được chia cho con của C là G,H (Điều 652 BLDS 2015).
Kết luận:
B : 60 tr + 340tr = 400 tr
F : 60 tr
D : 300tr + 340tr = 640 tr
E: 340 tr
G = H = 170 tr

Tình huống 13.
A, B kết hôn năm 2003 có con là C,D. Có khối tài sản chung trị giá 800 triệu nhưng có bất đồng về việc làm ăn nên đã chia tài sản chung năm 2011, số tiền này được bà B dùng để kinh doanh riêng. Năm 2016, anh A bị tai nạn không có khả năng lao động, năm 2017 anh A chết để lại di chúc để lại ½ tài sản cho C và D. Sau khi anh A chết, chị B bị tòa án kết án về hành vi ngược đãi anh A từ khi anh A bị tai nạn.
Hãy chia di sản của anh A. Biết bố, mẹ anh A từ chối nhận di sản của anh A.
Gợi ý trả lời
Giả sử di sản anh A để lại sau khi trừ đi các khoản nghĩa vụ còn là 400 triệu.
Anh A chết để lại di chúc ½ di sản cho C và D (C = D = 100 triệu). Còn ½ di sản của anh A để lại được chia theo pháp luật. Những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của anh A là: bố, mẹ, vợ (B), C, D (theo điều 650, 651 BLDS 2015). Lưu ý, bố, mẹ và vợ (B) anh A là những người không được nhắc đến trong di chúc và đây là được hưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc. Theo đó, những người này phải được hưởng ít nhất 2/3 suất thừa kế theo pháp luật (điều 644 BLDS 2015).
Tuy nhiên, bố và mẹ anh A đã từ chối nhận di sản. Việc từ chối nhận di sản phải thực hiện theo quy định về từ chối nhận di sản phải được lập thành văn bản, việc từ chối phải được thực hiện trước khi phân chia di sản…. (điều 620 BLDS 2015). Chị B, bị kết án về hành vi ngược đãi anh A nên không được quyền hưởng di sản anh A để lại (khoản 1, điều 621 BLDS 2015).
Theo đó, ½ di sản không được anh A định đoạt trong di chúc được chia cho C, D mỗi người được một phần di sản bằng nhau (C = D = 100 triệu).
Kết luận
C = D = 200 triệu

Tình huống 14.
A có vợ là B và 3 người con là C,D,E; trong đó E (15 tuổi) còn C,D đã thành niên và có việc làm. A chết để lại di chúc hợp pháp cho B một căn nhà, C một mảnh đất, G (người tình) một chiếc ô tô. Mở thừa kế căn nhà có giá trị 2,5 tỷ đồng; mảnh đất có giá trị 1,2 tỷ đồng; chiếc ô tô trị giá 800 triệu đồng và tiền mặt 500 triệu đồng.
Xác định phần di sản mà mỗi người được hưởng
Xác định lại di sản mà mỗi người được hưởng trong trường hợp C từ chối nhận di sản
Xác định lại di sản trong trường hợp A còn một người con là H với bà K
Gợi ý trả lời
Di sản ông A để lại là: 5 tỷ đồng .
Trường hợp a.
Ông A chết để lại di chúc. Theo đó, bà B được căn nhà (trị giá 2,5 tỷ); C được mảnh đất trị giá (1,2 tỷ); G xe ô tô trị giá (800 triệu); 500 triệu chưa được A định đoạt trong di chúc sẽ được chia theo pháp luật (điều 650 BLDS 2015).
Những người được hưởng thừa kế theo pháp luật của ông A gồm có B,C,D,E mỗi người được một phần di sản bằng nhau là 125 triệu.
Trường hợp này, E là con chưa thành niên của A. Theo đó E phải được hưởng ít nhất 2/3 suất thừa kế theo pháp luật (5 tỷ : 4) là 833,3 triệu. Sau khi số tài sản không được ông A định đoạt trong di chúc được chia thì E chưa đảm bảo được hưởng 2/3 suất thừa kế theo pháp luật nên phần còn thiếu (833,3 – 125 = 708,3) sẽ được lấy ra theo tỷ lệ mà B, C, G được hưởng theo nội dung di chúc.
Trường hợp b.
Ông A chết để lại di chúc. Theo đó, bà B được căn nhà (trị giá 2,5 tỷ); C được mảnh đất trị giá (1,2 tỷ); G xe ô tô trị giá (800 triệu); 500 triệu chưa được A định đoạt trong di chúc.
500 triệu chưa được định đoạt trong di chúc và phần di sản C từ chối nhận (điều 620 BLDS 2015) sẽ được chia theo pháp luật (điều 650 BLDS 2015). Khi đó, B,D,E mỗi người được hưởng một phần di sản bằng nhau là 1,7 tỷ : 3 = 566,6 triệu. Sau khi số tài sản không được ông A định đoạt trong di chúc và phần di sản C từ chối nhận được chia thì E chưa đảm bảo được hưởng 2/3 suất thừa kế theo pháp luật nên phần còn thiếu (1 tỷ 666,6 triệu – 566,6 = 1 tỷ 100 triệu) sẽ được lấy ra theo tỷ lệ mà B, G được hưởng theo nội dung di chúc.
Trường hợp c.
Ông A chết để lại di chúc. Theo đó, bà B được căn nhà (trị giá 2,5 tỷ); C được mảnh đất trị giá (1,2 tỷ); G xe ô tô trị giá (800 triệu); 500 triệu chưa được A định đoạt trong di chúc.
Xuất hiện K là con riêng của A.
-Trường hợp mà K đã thành niên và có khả năng lao động thì 500 triệu chưa được ông A định đoạt trong di chúc sẽ được chia cho K – thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông A. Khi đó, 500 triệu này sẽ được chia làm 5 phần cho B,C,D,E, K mỗi người một phần bằng nhau là 100 triệu.
E là người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc (điều 644 BLDS 2015) phải được hưởng ít nhất 2/3 suất thừa kế theo pháp luật (5 tỷ : 5) là 666,6 triệu. Sau khi số tài sản không được ông A định đoạt trong di chúc được chia thì E chưa đảm bảo được hưởng 2/3 suất thừa kế theo pháp luật nên phần còn thiếu (666,6 – 100 = 566,6) sẽ được lấy ra theo tỷ lệ mà B, C, G được hưởng theo nội dung di chúc.
-Trường hợp K chưa thành niên hoặc đã thành niên nhưng không có khả năng lao động thì K, E là những người được hưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc (điều 644 BLDS 2015) vì vậy những người này phải được hưởng ít nhất 2/3 suất thừa kế theo pháp luật (5 tỷ : 5) là 666,6 triệu. Sau khi số tài sản không được ông A định đoạt trong di chúc được chia thì E, K chưa đảm bảo được hưởng 2/3 suất thừa kế theo pháp luật nên phần còn thiếu ở mỗi phần của E và K (666,6 – 100 triệu = 566,6) sẽ được lấy ra theo tỷ lệ mà B, C, G được hưởng theo nội dung di chúc.

Tình huống 15.
Ông A kết hôn với bà B sinh ra anh C (năm 1980) chị D (1986).
Năm 1990, ông A và bà B phát sinh mâu thuẫn và đã ly hôn họ thống nhất thỏa thuận bà B nhận cả ngôi nhà đang ở (và nuôi chị D), ông A nhận nuôi anh C và được chia một số tài sản trị giá là 30 triệu đồng. Năm 1991 ông A dùng số tiền trên để mua đất và xây dựng 1 căn nhà khác.Tháng 9/1992, ông A kết hôn với bà T sinh ra được 2 người con là E (1994) và F (1998). Hai ông bà sống trong căn nhà mới này và ông A tuyên bố nhà, đất là của riêng không nhập vào tài sản chung.
Tháng 10/2007, ông A chết để lại di chúc hợp pháp cho anh C hưởng 1/2 di sản của ông. Riêng nhà, đất ông để lại dùng làm nơi thờ cúng mà không chia thừa kế. Đến tháng 01/2017, chị D có đơn gửi tòa án yêu cầu chia di sản thừa kế của bố. Qua điều tra xác định: nhà, đất của ông A trị giá 400 triệu đồng, ông A và bà T tạo lập được khối tài sản trị giá 800 triệu đồng. Hãy chia di sản thừa kế trên.

Gợi ý trả lời
Tổng di sản ông A để lại là: 800 triệu (trong đó: nhà, đất trị giá 400 triệu và 400 triệu trong khối tài sản chung với bà T).
Ông A chết năm 2007, để lại di chúc ½ di sản cho C; nhà, đất trị giá 500 triệu đồng được dùng làm di sản thờ cúng. Theo đó, những người thừa kế của ông A sẽ phải cử người để quản lý di sản thờ cúng (điều 670 BLDS 2005), phần nhà, đất này sẽ không được dùng để chia thừa kế; C sẽ được hưởng ½ di sản ông A để lại là 200 triệu đồng. Còn 200 triệu không được định đoạt trong di chúc sẽ được chia theo pháp luật (điều 675 BLDS 2005). Những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông A gồm có: T, C, D, E, F mỗi người được một phần di sản bằng nhau (40 triệu) theo điều 676 BLDS 2005.
Trường hợp này, có T, E, F là những người được hưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc (điều 669 BLDS 2005) theo đó những người này phải được hưởng 2/3 suất thừa kế theo pháp luật (400 : 5) là 53,3 triệu. Khi phần di sản ông A không định đoạt trong di chúc được chia theo pháp luật thì những người này chưa được hưởng ít nhất 2/3 suất thừa kế theo pháp luật nên phần còn thiếu sẽ được lấy ra từ phần mà C được hưởng theo di chúc.
Tháng 1/2017, chị D yêu cầu chia di sản thừa kế vẫn trong thời hiệu thừa kế (điều 623 BLDS 2015).

Tình huống 16.
Ông Khải và Bà Ba kết hôn với nhau năm 1965 và có 3 con là anh Hải, anh Dũng, chị Ngân. Chị Ngân kết hôn với anh Hiếu và có con chung là Hạnh. Năm 2010, Ông Khải chết có để lại di chúc cho con gái là chị Ngân và cháu ngoại là Hạnh được hưởng toàn bộ di sản của ông trong khối tài sản chung của ông và bà Ba. Hai năm sau bà Ba cũng chết và để lại di chúc cho chị gái là bà Hai và một người cháu họ tên là Lương được hưởng di sản của mình. Năm 2017, anh Dũng chết do bệnh nặng không để lại di chúc.
Hãy giải quyết việc tranh chấp. Biết rằng bà Ba, ông Khải, anh Dũng không còn người thân thích nào khác; anh Hải có lập văn từ chối hưởng di sản của bà Ba và anh Dũng theo đúng qui định của pháp luật, chị gái của bà Ba là bà Hai chết cùng thời điểm với bà Ba. Tài sản chung của ông Khải và bà Ba cho đến thời điểm ông Khải chết là 1.2tỷ, sau khi ông Khải chết, bà Ba còn tạo lập một căn nhà trị giá 300 triệu.
Gợi ý trả lời
-Năm 2010, ông Khải chết. Di sản ông Khai để lại là 600 triệu trong khối tài sản chung với bà Ba. Ông Khải để lại di chúc hợp pháp cho chị Ngân, cháu Hạnh được hưởng toàn bộ di sản của ông.
Tuy nhiên, bà Ba (vợ) là người được hưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc (điều 669 BLDS 2005). Theo đó, bà Ba phải được hưởng ít nhất 2/3 suất thừa kế theo pháp luật (600:4 = 150) là 100 triệu. Phần còn lại là 500 triệu sẽ được chia theo di chúc mà ông Khải để lại là chị Ngân = cháu Hạnh = 250 triệu.
-Năm 2012, bà Ba chết. Di sản bà Ba để lại là 1 tỷ (trong đó: 600 triệu trong khối tài sản chung với ông Khải, 300 triệu (nhà) tạo lập riêng, 100 triệu được hưởng thừa kế của ông Khải).
Bà Ba chết để lại di chúc cho bà Hai (chị gái bà Ba) và cháu Lương (cháu họ) hưởng di sản của bà. Theo đó, bà Hai, anh Lương mỗi người sẽ được một phần di sản bằng nhau ( 1 tỷ : 2) là 500 triệu. Tuy nhiên, bà Hai chết cùng thời điểm với bà bà Ba nên bà Hai không được hưởng phần di sản mà bà Ba để lại (điều 641 BLDS 2005). Khi đó, phần di sản (500 triệu) này sẽ được chia theo pháp luật (667, 675 BLDS 2005). Theo đó, những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của bà Ba gồm có: Hải, Dũng, Ngân (điều 676 BLDS 2005) nhưng anh Hải đã từ chối nhận di sản (Điều 642 BLDS 2005) của bà Ba nên phần di sản đó sẽ được chia cho Dũng, Ngân mỗi người một phần bằng nhau (250 triệu).
-Năm 2017, anh Dũng chết. Di sản anh Dũng để lại là 250 triệu (được hưởng thừa kế từ mẹ anh – Bà Ba). Anh Dũng chết không để lại di chúc nên di sản anh để lại sẽ được chia theo pháp luật (Điều 650 BLDS 2015). Những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của anh Dũng không có ai; anh Hải, chị Ngân là những người thuộc hàng thừa kế thứ hai sẽ được hưởng phần di sản mà anh Dũng để lại (Điều 651 BLDS 2015). Tuy nhiên, anh Hải đã lập văn bản từ chối nhận di sản (điều 620 BLDS 2015) nên chị Ngân sẽ được hưởng toàn bộ phần di sản anh Dũng để lại (250 triệu).

Tình huống 17.
Ông Thịnh đã ly hôn với vợ và có 2 người con là Hòa và Bình.
Bà Nguyệt (chồng chết) có 2 người con riên là Xuân và Hạ.
Năm 1995, ông Thịnh kết hôn với bà Nguyệt và sinh được 2 người con là Tuyết và Lê.
Để tránh sự bất hòa giữa mẹ kế và con chồng , ông Thịnh cùng bà Nguyệt mua một căn nhà để bà Nguyệt cùng các con là Xuân, Hạ, Tuyết, Lê ở riêng. Trong quá trình chung sống, ông Thịnh thương yêu Xuân và Hạ như con ruột, nuôi dưỡng và cho 2 người ăn học đến lớn.
Hòa kết hôn với Thuận có con là Thảo.
Xuân kết hôn với Thu có con là Đông.
Hòa bị tai nạn chết vào năm 2012. Ông Thịnh bệnh chết vào năm 2015. Xuân cũng chết vào năm 2017. Hãy chia thừa kế trong tình huống này.
Qua điều tra được biết: Ông Thịnh có tài sản riêng là 200 triệu đồng và có tài sản chung với bà nguyệt( căn nhà bà nguyệt và các con đã sống) trị giá 600tr đồng. Hòa và Thuận có tài sản chung là 240 tr đồng. Xuân và Thu có tài sản chung là 400tr.
Hãy phân chia di sản của ông Thịnh.
Gợi ý trả lời
-Năm 2012, Hòa chết không để lại di chúc, di sản Hòa để lại là 120 triệu. Di sản mà Hòa để lại được chia theo pháp luật (điều 675 BLDS 2005, những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của Hòa là: Thuận (chồng), Thảo (con), ông Thịnh (bố), mẹ đẻ của Hòa; mỗi người sẽ được hưởng một phần di sản bằng nhau (120 : 4) là 30 triệu. (Bà Nguyệt là mẹ kế và không có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau nên không được hưởng thừa kế theo điều 679 BLDS 2005).
– Năm 2015, ông Thịnh chết không để lại di chúc nên di sản ông Thịnh để lại được chia theo pháp luật (điều 675 BLDS 2005). Di sản ông Thịnh để lại là 530 triệu (trong đó 200 tr là tài sản riêng, 300 tr trong khối tài sản chung với bà Nguyệt, 30 tr được thừa kế từ di sản của chị Hoa) sẽ được chia làm 7 phần cho: bà Nguyệt, Hòa, Bình, Tuyết, Lê, Xuân, Hạ (theo điều 676,679 BLDS 2005) mỗi người một phần bằng nhau là 75,7 triệu. Lưu ý, Hòa đã chết nên Hạnh – con của Hòa sẽ được hưởng thừa kế thế vị (điều 677 BLDS 2005).
– Năm 2017, Xuân chết không để lại di chúc. Di sản Xuân để lại là 275,7 triệu (Trong đó: 200 triệu trong phần tài sản chung với Đông, 75,7 triệu được hưởng thừa kế của ông Thịnh) sẽ được chia làm 3 phần cho: Nguyệt, Thu, Đông mỗi người một phần bằng nhau là 91,9 triệu (điều 651 BLDS 2015).

Tình huống 18.
Du và Miên là 2 vợ chồng, có 3 con chung là Hiếu, Thảo và Chi.
Do bất hòa, Du và Miên đã ly thân, Hiểu ở với mẹ còn Thảo và Chi sống với bố.
Hiếu là đứa con hư hỏng, đi làm có thu nhập cao nhưng luôn ngược đãi, hành hạ mẹ để đòi tiền ăn chơi, sau 1 lần gây thương tích nặng cho mẹ, hắn đã bị kết án.
Năm 2017, Bà Miên mất có để lại di chúc là cho Trâm là e gái 1 nửa số tài sản của mình.
Khối tài sản chung của Du và Miên là 600 triệu
1. Chia thừa kế trong tr hợp này. Biết các con của Bà Miên đã thành niên và có khả năng lao động.
2. Giả sử cô Trâm khước từ nhận di sản thừa kế, di sản sẽ phân chia thế nào.
Gợi ý trả lời
-Năm 2017, bà Miên mất để lại di sản là 300 triệu (1/2 khối tài sản chung với ông Du). Bà để lại di chúc cho Trâm (em gái) ½ di sản của mình = 150 triệu. Phần còn lại là 150 triệu được chia theo pháp luật; những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của bà Miên là ông Du, Hiếu, Thảo, Chi (điều 650, 651 BLDS 2015). Tuy nhiên, Hiếu thuộc trường hợp không được quyền hưởng di sản (điều 621 BLDS 2015). Nên phần di sản đó sẽ được chia làm 3 phần cho ông Du = Thảo = Chi = 50 triệu đồng. Tuy nhiên, ông Du – chồng bà Miên là người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc (644 BLDS 2015) nên ông phải được hưởng ít nhất bằng 2/3 suất thừa kế theo pháp luật, khi di sản không được bà Miên định đoạt trong di chúc khi chia theo pháp luật chưa đảm bảo cho ông Du được hưởng ít nhất bằng 2/3 suất thừa kế theo pháp luật (300 : 3 = 100) là 75 triệu nên phần còn thiếu (75 triệu – 50 triệu) là 25 triệu sẽ được lấy từ phần của bà Trâm được hưởng theo nội dung di chúc.
– Giả sử cô Trâm từ chối nhận di sản theo đúng quy định pháp luật (điều 620 BLDS 2015) thì phần di sản đó sẽ được chia theo pháp luật (điều 650, 651 BLDS 2015) khi đó ông Du = Thảo = Chi = 100 triệu.

Tình huống 19.
Năm 1972, Ô A kết hôn với bà B. Ô bà sinh được 3 con là M, N, C. Năm 1995, M kết hôn với E sinh được H & X. N lấy chồng là G sinh được con là K & D. Tháng 3/2000, Ô A chết để lại di chúc cho X & N. Qua quá trình điều tra thấy rằng Ô A lập di chúc không hợp pháp. Biết rằng tài sản của ông A là 200 triệu VNĐ. Tài sản chung của Ô bà B là đất, nhà trị giá 600 triệu VNĐ. Bà B mai táng cho ông A hết 40 triệu. Năm 2017, C khởi kiện yêu cầu chia di sản ông A để lại. Biết, bố, mẹ ông A chết trước ông A. Hãy chia thừa kế.
Gợi ý trả lời
Thời hiệu thừa kế trong trường này vẫn còn, theo quy định tại điều 623 BLDS 2015 thời yêu cầu chia di sản là 30 năm với bất động sản.
Ông A, chết năm 1972 để lại 300 triệu (1/2 giá trị nhà, đất) sau khi trừ đi chi phí mai táng 40 triệu thì di sản ông A để lại là 260 triệu.
Ông A để lại di chúc nhưng nếu di chúc không đáp ứng được quy định tại điều 655 BLDS 1995 thì di chúc này không hợp pháp. Khi đó, di sản ông A để lại sẽ được chia theo pháp luật (678 BLDS 1995), những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông A là: B,M,N,C những người này được một phần di sản bằng nhau là 65 triệu (679 BLDS 1995).

Tình huống 20.
Hậu và Minh kết hôn năm 2003, có 2 con gái là Xuân 2004, Yên 2007.
Năm 2009, Hậu đi xuất khẩu lao động ở Đài Loan và chung sống như vợ chồng với Thủy có con chung là Sơn (2013).
Tháng 11-2016, Hậu về nước và li hôn với Minh. Tòa án đã thụ lý đơn.
Ngày 8-1-2017, Hậu chết.
Thủy đến đòi chia tài sản thừa kế của Hậu.
Hãy chia thừa kế.Biết: Hậu và Thủy có khối tài sản chung là 3 tỷ, Hậu và Minh có tài sản chung là 980 triệu; thời gian ở Đài Loan, Hậu không gửi tiền về; Mai táng cho hậu hết 20tr; bố Hậu mất trước Hậu, còn mẹ Hậu vẫn khỏe mạnh.
1. Hãy chia thừa kế trong trường hợp trên
2. Giả sử Hậu để lại di chúc miệng và được nhiều người chứng kiến là để tài sản cho Thủy, Sơn, Xuân,Yên mỗi người 1 phần đều nhau. Chia thừa kế trong trường hợp trên.
Gợi ý trả lời
Di sản Hậu để lại là 1 tỷ 240 triệu. (Vì, Hậu và Minh chưa ly hôn nên 1, 5 tỷ ở trong khối tài sản chung giữa Hậu và Thủy là tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân của Hậu và Minh nên tổng tài sản chung của Hậu và Minh là 2 tỷ 480 triệu).
-Trường hợp1. Hậu chết không để lại di chúc thì di sản Hậu để lại được chia theo pháp luật (điều 650 BLDS 2015). Theo đó, di sản Hậu để lại sẽ được chia làm 5 phần cho: mẹ Hậu, Minh, Xuân, Yên, Sơn mỗi người một phần di sản bằng nhau là 248 triệu, vì đây là những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của Hậu (điều 651 BLDS 2015).
– Trường hợp 2. Hậu để lại di chúc miệng và được nhiều người chứng kiến là để tài sản cho Thủy, Sơn, Xuân,Yên mỗi người 1 phần đều nhau.
Di chúc mà Hậu để lại trước khi chết được coi là hợp pháp khi thực hiện theo quy định tại khoản 5, điều 630 BLDS 2015. Theo đó, Thủy, Sơn, Xuân, Yên sẽ được thừa kế theo di chúc mà Hậu để lại. Tuy nhiên, mẹ Hậu và Minh (vợ) là những người được hưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc (điều 644 BLDS 2015), vì vậy, mẹ Hậu và Minh mỗi người sẽ được hưởng ít nhất 2/3 suất thừa kế theo pháp luật là 165, 3 triệu; phần còn lại sẽ được thực hiện theo nội dung di chúc mà Hậu để lại Thủy = Sơn = Xuân = Yên = 227,35 triệu (909,4 : 4 = 227,35 triệu).

Tình huống 21.
Năm 1973, Ô Sáu kết hôn với bà Lâm và có hai người con là Hoa (sinh năm 1975) và Hậu (Sinh năm 1977) đồng thời ông cũng tạo lập được một ngôi nhà thuộc sở hữu chung hợp nhất giá trị 180 triệu. Năm 1982, vì muốn có con trai nối dõi và có sự đồng ý của bà Lâm, ông Sáu sống như vợ chồng với bà Son và có hai con trai là Tấn (sinh năm 1983) và Thanh (sinh năm 1985) và cùng sống tại nhà bà Son.
Năm 2007 bà Lâm bị bệnh nặng, vì Hoa là người chăm sóc chính nên bà đã lập di chúc cho Hoa toàn bộ di sản, năm 2008 bà Lâm chết. Năm 2009, Hoa kết hôn với Khôi, có một người con là Bôn và tạo dựng được khối tài sản là 540 triệu. Cùng năm đó ông Sáu và bà Son tiến hành đăng ký kết hôn tại UBND phường. Năm 2015, Hoa bị tai nạn xe máy chết đột ngột nên không để lại di chúc.
Năm 2017, ông Sáu chết không để lại di chúc, chi phí mai táng hết 10 triệu. Các con của ông Sáu khởi kiện đòi chia tài sản thừa kế của ông.
Qua điều tra, tòa án xác định được:
– Tài sản chung của ông Sáu và bà Son là 80 triệu.
– Tài sản của ông Sáu có trước khi kết hôn không nhập nào tài sản chung với bà Son.
Yêu cầu hãy chia thừa kế trong trường hợp trên.
Gợi ý trả lời
-Năm 2008, bà Lâm chết di sản mà bà để lại là 90 triệu (1/2 giá trị căn nhà chung với ông Sáu). Theo di chúc mà bà để lại thì chị Hoa sẽ được hưởng toàn bộ di sản của bà. Tuy nhiên, ông Sáu (chồng) là người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc nên sẽ được hưởng 2/3 suất thừa kế (90:3 = 30) là 20 triệu (669 BLDS 2005). Phần còn lại là 60 triệu chị Hoa sẽ được hưởng theo nội dung di chúc bà Lâm để lại.
-Năm 2015, chị Hoa chết không để lại di chúc. Di sản mà chị để lại là 330 triệu (trong đó, 60 triệu chị Hoa được thừa kế từ bà Lâm, 270 triệu là ½ trong khối tài sản chung với Khôi) được chia theo pháp luật (675 BLDS 2005). Theo đó, ông Sáu, Khôi, Bôn là những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của chị Hoa sẽ được hưởng một phần di sản bằng nhau là 110 triệu (676 BLDS 2005).
– Năm 2017, ông Sáu chết không để lại di chúc nên di sản ông để lại sẽ được chia theo pháp luật (điều 650 BLDS 2015). Di sản ông để lại là 260 triệu (trong đó, 40 triệu là ½ khối tài sản chung với bà Son, 90 triệu là ½ khối tài sản chung với bà Lâm, 20 triệu được thừa kế của bà Lâm, 110 triệu được hưởng thừa kế của chị Hoa) sau khi trừ đi tiền mai táng còn 250 triệu (điều 658 BLDS 2015).
Những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Sáu là: bà Son, Tấn, Thanh, Hoa, Hậu mỗi người một phần di sản bằng nhau là 50 triệu (điều 651 BLDS 2015). Vì Hoa đã chết nên con của Hoa là Bôn sẽ được hưởng thừa kế thế vị của Hoa (điều 652 BLDS 2015).

Tình huống 22.
Anh Hải và chị Thịnh kết hôn năm 1995, họ có 2 con là Hạ sinh năm 2001 và Long sinh năm 2004. Do cuộc sống vợ chồng không hoà thuận , vợ chồng anh đã ly thân. Hạ và Long sống với mẹ, còn anh Hải sống với cô nhân tình là Dương .
Ở quê anh Hải còn người cha là ông Phong và em ruột là Sơn. Tết âm năm 2017, anh về quê đón cha lên chơi, nhưng không may bị tai nạn. Trước khi chết trong viện, anh di chúc miệng (trước nhiều người làm chứng) là để lại toàn bộ tài sản của mình cho cô Dương .
– Sau khi anh Hải chết, ông Phong cũng qua đời. Chị Thịnh đã kiện tới toà án yêu cầu giải quyết việc phân chia di sản thừa kế.
– Biết rằng :
+ Tài sản chung của anh Hải và chị Thịnh là 500 triệu đồng; tài sản chung của anh Hải và chị Dương là xe ô tô trị giá 800 triệu.
+ Tài sản của ông Phong ở quê là 600 triệu đồng .
Giải quyết vụ việc trên?
Trường hợp 1. Di chúc anh Hải để lại là hợp pháp. Anh Hải và ông Phong chết cùng thời điểm trong bệnh viện).
Trường hợp 2. Di chúc anh Hải để lại là hợp pháp. Anh Hải và ông Phong đều chết cùng thời điểm trong bệnh viện). 5 ngày sau khi anh Hải chết, ông Phong cũng qua đời.
Gợi ý trả lời
Trường hợp 1. Anh Hải và ông Phong chết cùng thời điểm.
-Di sản ông Phong để lại là 600 triệu, ông chết không để lại di chúc nên sẽ được chia theo pháp luật (điều 650 BLDS 2015). Theo đó, những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông là: Sơn, Hải (phần của Hải sẽ được chia cho Hạ và Long hưởng thừa kế thế vị do Hải chết cùng thời điểm với ông Phong) theo điều 651, 652 BLDS 2015). Khi đó, Sơn được 300 triệu, Hạ = Long = 150 triệu.
– Di sản anh Hải lại là 450 triệu đồng (Vì ½ tài sản chung của anh Hải với chị Dương là 400 triệu là tài sản trong thời kỳ hôn nhân với chị Thịnh nên đây là tài sản chung của vợ chồng; do đó, tổng tài sản chung của vợ chồng anh Hải, chị Thịnh là 900 triệu => Di sản anh Hải để lại là ½ khối tài sản đó là 450 triệu).
Anh Hải chết để lại di chúc cho chị Dương hưởng toàn bộ di sản nếu là hợp pháp (khoản 5 điều 630 BLDS 2015) nhưng chị Thịnh (vợ), Hạ (con chưa thành niên), Long (con chưa thành niên) là những người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc nên phải được hưởng ít nhất 2/3 suất thừa kế theo pháp luật (450 : 3 = 150) là 100 triệu (điều 644 BLDS 2015).
Theo đó, Thịnh = Hạ = Long = 100 triệu; phần còn lại (450 – 300) là 150 triệu sẽ được thực hiện theo di chúc anh Hải để lại (cho chị Dương).
Lưu ý: ông Phong chết cùng thời điểm với Hải nên không được hưởng thừa kế với di sản Hải để lại (điều 619 BLDS 2015).
Trường hợp 2. Anh Hải chết trước ông Phong 5 ngày.
– Di sản anh Hải lại là 450 triệu đồng (Vì ½ tài sản chung của anh Hải với chị Dương là 400 triệu là tài sản trong thời kỳ hôn nhân với chị Thịnh nên đây là tài sản chung của vợ chồng; do đó, tổng tài sản chung của vợ chồng anh Hải, chị Thịnh là 900 triệu => Di sản anh Hải để lại là ½ khối tài sản đó là 450 triệu).
Anh Hải chết để lại di chúc cho chị Dương hưởng toàn bộ di sản nếu là hợp pháp (khoản 5 điều 630 BLDS 2015) nhưng ông Phong (bố), chị Thịnh (vợ), Hạ (con chưa thành niên), Long (con chưa thành niên) là những người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc nên phải được hưởng ít nhất 2/3 suất thừa kế theo pháp luật (450 : 4 = 112,5 triệu) là 75 triệu (điều 644 BLDS 2015).
Theo đó, ông Phong = chị Thịnh = Hạ = Long = 75 triệu; phần còn lại (450 – 300) là 150 triệu sẽ được thực hiện theo di chúc anh Hải để lại cho chị Dương.
-Di sản ông Phong để lại là 675 triệu (trong đó, 600 triệu là tài sản ở quê của ông và 75 triệu được hưởng thừa kế của anh Hải).
Ông chết không để lại di chúc nên sẽ được chia theo pháp luật (điều 650 BLDS 2015). Theo đó, những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông là: Sơn, Hải (phần của Hải sẽ được chia cho Hạ và Long hưởng thừa kế thế vị do Hải chết cùng thời điểm với ông Phong) theo điều 651, 652 BLDS 2015). Khi đó, Sơn được 337,5 triệu, Hạ = Long = 168,75 triệu.

 

 

 

 

 

Từ khóa: , ,