Ai có quyền quản lí di sản thừa kế?

Quyền thừa kế đã không còn là một ý niệm xa lạ đối với mỗi người trong xã hội hiện nay. Đối với quá trình thừa kế di sản, việc quản lí di sản là một công việc tối quan trọng và không thể thiếu. Người quản lí di sản sẽ đại diện nhóm người thuộc diện thừa kế di sản thực hiện hành vi bảo quản, gìn giữ, bảo tồn, sử dụng di sản thừa kế một cách hợp lí và hợp pháp nhất. Tuy nhiên, theo quy định của pháp luật, ai là người có quyền quản lí di sản? Người quản lí di sản có những quyền và nghĩa vụ cụ thể nào đối với tài sản thừa kế? Trong khuôn khổ bài viết dưới đây, hãy cùng chúng tôi tìm hiểu nhé.

Căn cứ pháp lí

  • Bộ luật dân sự 2015
Nội dung tư vấn
1. Thừa kế là gì? 
Theo quy định của pháp luật thì thừa kế là  việc chuyển dịch tài sản của người đã chết cho người còn sống. Tài sản của người chết được gọi là di sản.

Người thừa kế là người được hưởng di sản mà người chết để lại theo di chúc hoặc theo quy định của pháp luật. Người thừa kế có thể là người được hưởng di sản thừa kế theo di chúc hoặc chỉ có thể hưởng di sản thừa kế theo pháp luật nhưng có thể là người vừa được hưởng di sản thừa kế theo di chúc vừa được hưởng di sản thừa kế theo pháp luật.

2. Di sản là gì? 

Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác. Chỉ có tài sản thuộc chính chủ thì mới có thể đem chia thừa kế. Phần tài sản của người đó trong khối tài sản chung cũng được đem chia thừa kế. Theo đó, di sản thừa kế bao gồm những tài sản sau:

  • Tài sản riêng của người chết: Đây là phần tài sản mà thông thường cá nhân nào cũng có, bởi nó gắn liền với quyền và nghĩa vụ lao động của mỗi cá nhân trong xã hội. Tài sản riêng của người chết được xác định là phần tài sản mà  về  phương diện pháp lí không bị chi phối hoặc phải chịu sự ràng buộc nào đối với các chủ thể khác trong việc chiếm hữu, sử dụng và thực hiện quyền định đoạt. Theo quy định của pháp luật, phần tài sản này được xác định như sau:
    • Độc lập trong sở hữu chung theo phần.
    • Độc lập trong sở hữu chung hợp nhất
  • Tài sản của người chết trong khối tài sản chung hợp nhất của vợ chồng. Tài sản chung của vợ chồng bao gồm:
    • Tài sản do vợ, chồng tạo ra;
    • Thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh;
    • Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng;
    • Thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân;
    • Tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.
    • Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.
    • Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.
    • Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.
  • Tài sản của người chết trong khối tài sản chung với người khác.

3. Quản lí di sản thừa kế là gì?

Quản lí di sản là hoạt động của cá nhân hoặc tổ chức trong việc bảo quản, bảo tồn, sử dụng tài sản, thanh toán các khoản nợ liên quan đến di sản và các hoạt động khác nhằm bảo đảm tính toàn vẹn của khối di sản theo quy định của pháp luật. Liên quan đến việc quản lí di sản gồm có hai nội dung cơ bản là xác định người quản lí di sản và nội dung các hoạt động quản lí di sản thể hiện trong các quyền và nghĩa vụ của người quản lí di sản theo quy định của Bộ luật dân sự 2015.

4. Ai có quyền quản lí di sản?

Người quản lý di sản là người có quyền nắm giữ quản lý tài sản của người chết để lại trong thời gian di sản chưa được chia cho những người thừa kế. Người quản lý di sản được quy định tại Điều 616 Bộ luật dân sự 2015, cụ thể là:

1. Người quản lý di sản là người được chỉ định trong di chúc hoặc do những người thừa kế thỏa thuận cử ra.

2. Trường hợp di chúc không chỉ định người quản lý di sản và những người thừa kế chưa cử được người quản lý di sản thì người đang chiếm hữu, sử dụng, quản lý di sản tiếp tục quản lý di sản đó cho đến khi những người thừa kế cử được người quản lý di sản.

3. Trường hợp chưa xác định được người thừa kế và di sản chưa có người quản lý theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này thì di sản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quản lý.

Theo đó, sau khi người để lại di sản qua đời, chủ thể của quyền sở hữu đối với tài sản không còn trong khi những người thừa kế chưa xác lập được quyền sở hữu đối với tài sản cụ thể trong khối di sản thừa kế. Mặt khác, thông thường, theo phong tục tập quán của nước ta, việc thực hiện chia di sản thừa kế không thực hiện ngay sau khi người lập di sản chết, bất luận là trường hợp thừa kế theo di chúc hay thừa kế theo pháp luật (bởi người xưa quan niệm làm vậy người mất sẽ bị oan đối không được siêu thoát vì vướng bận trần thế). Do đóm khối tài sản do người chết để lại cần được quản lí, bảo quản khi mà không có người quản lí. Quy định về người quản lí di sản đã giải quyết được trọn vẹn những khúc mắc xung quanh vấn đề này.

Việc xác định người quản lí di sản được thực hiện theo trình tự như sau:

  • Khi lập di chúc người có tài sản có quyền chỉ định người quản lí di sản phân chia di sản.
  • Trong trường hợp người có tài sản không lập di chúc hoặc có lập di chúc nhưng không chỉ định người quản lí tài sản thừa kế phân chia di sản thì những người thừa kế cử ra một người để quản lí di sản thừa kế.
  • Trong trường hợp di chúc không chỉ định người quản lí di sản và những người thừa kế chưa cử ra được một người nào để quản lí di sản thừa kế thì người đang chiếm hữu, sử dụng sẽ quản lí tài sản đó cho đến khi những người thừa kế tìm được người quản lí di sản.
  • Trong trường hợp chưa xácđịnh được người thừa kế và di sản chưa có người quản lí thì di sản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quản lí.

5.Nghĩa vụ của người quản lí di sản

Theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015, thì người quản lí di sản có các nghĩa vụ chính sau đây:

  • Nếu người quản lí di sản là người được chỉ định trong di chúc hoặc do những người thừa kế thỏa thuận cử ra, thì người đó có các nghĩa vụ sau:
    • Lập danh mục di sản; thu hồi tài sản thuộc di sản của người chết mà người khác đang chiếm hữu, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác;
    • Bảo quản di sản; không được bán, trao đổi, tặng cho, cầm cố, thế chấp hoặc định đoạt tài sản bằng hình thức khác, nếu không được những người thừa kế đồng ý bằng văn bản;
    • Thông báo về tình trạng di sản cho những người thừa kế;
    • Bồi thường thiệt hại nếu vi phạm nghĩa vụ của mình mà gây thiệt hại;
    • Giao lại di sản theo yêu cầu của người thừa kế.
  • Nếu trong trường hợp di chúc không chỉ định người quản lý di sản và những người thừa kế chưa cử được người quản lý di sản, mà người đang chiếm hữu, sử dụng, quản lý di sản là người quản lý di sản đó thì người này có nghĩa vụ sau:
    • Bảo quản di sản; không được bán, trao đổi, tặng cho, cầm cố, thế chấp hoặc định đoạt tài sản bằng hình thức khác;
    • Thông báo về di sản cho những người thừa kế
    • Bồi thường thiệt hại nếu vi phạm nghĩa vụ của mình mà gây thiệt hại;
    • Giao lại di sản theo thỏa thuận trong hợp đồng với người để lại di sản hoặc theo yêu cầu của người thừa kế.

6.Quyền của người quản lí di sản.

  • Người quản lí di sản được chỉ định theo di chúc hoặc được cử ra theo quy định của pháp luật có các quyền cụ thể như sau:
    • Đại diện cho những người thừa kế trong quan hệ với người thứ ba liên quan đến di sản thừa kế. Người quản lý di sản có các quyền đại diện cho những người thừa kế trong quan hệ với người thứ ba liên quan đến di sản thừa kế, được hưởng thù lao theo thỏa thuận với những những người thừa kế. Điều đó có nghĩa là người quản lý di sản có quyền nhân danh người để lại di sản hoặc những người thừa kế xác lập, thực hiện những giao dịch dân sự dựa trên cơ sở ý nguyện của người để lại di sản (theo di chúc), hoặc trên cơ sở thỏa thuận của những người thừa kế (văn bản thỏa thuận).
    • Được hưởng thù lao theo thỏa thuận với những người thừa kế. Nếu người lập di chúc không chỉ rõ khoản thù lao này, hoặc những người thừa kế không thỏa thuận về việc trả thù lao thì người quản lý di sản không được hưởng khoản tiền này. Tuy nhiên, nếu người để lại di sản không thể hiện trong di chúc hoặc những người thừa kế không thỏa thuận về việc trả thù lao cho người quản lý di sản, thì người quản lý di sản vẫn có quyền yêu cầu những người thừa kế thanh toán phần chi phí thực tế mà mình đã bỏ ra để bảo quản di sản.
    • Được thanh toán chi phí bảo quản di sản.
  • Người quản lí di sản là người đang chiếm hữu, sử dụng, quản lí di sản có các quyền như sau:
    • Được tiếp tục sử dụng di sản theo thỏa thuận trong hợp đồng với người để lại di sản hoặc được sự đồng ý của những người thừa kế. Khi còn sống, người lập di chúc đã kí kết các hợp đồng liên quan đến di sản thừa kế với các chủ thể khác. Sau khi mở thừa kế nếu các hợp đồng này còn thời hạn, thì người đang chiếm hữu, khai thác, sử dụng di sản tiếp tục được sử dụng đến khi hết thời hạn của hợp đồng.
    • Được hưởng thù lao theo thỏa thuận với những người thừa kế.
    • Được thanh toán chi phí bảo quản di sản.Trong thời gian quản lí di sản, có những lại di sản cần phải có biện pháp bảo quản theo, như cần có chi phí mua bao bì, vật tư, bao chứa, kho chứa, mái che để chứa và bảo quản. Đối với những chi phí này, người quản lí di sản có quyền yêu cầu người thừa kế hoàn trả những chi phí cần thiết đó.
Hy vọng bài viết sẽ giúp ích cho bạn!
Chiathuake.com là Website trực thuộc của Công ty Luật TNHH LSX (Luật sư X) – là đơn vị cung cấp dịch vụ luật sư thừa kế chuyên nghiệp tại Việt Nam. Vì vậy, hãy liên hệ tới số điện thoại 0969.434.434  khi Quý khách có nhu cầu về dịch vụ!

 

 

Từ khóa: ,