Con riêng có quyền được thừa kế không?

Ông bà ta thường nói ” Mấy đời bánh đúc có sương/ Mấy đời mẹ ghẻ mà thương con chống” nhằm ám chỉ mối quan hệ thường không tốt đẹp giữa mẹ kế và con chồng. Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn có nhiều người mở rộng vòng tay đón nhận và yêu thương con riêng của vợ/chồng mình tương tự như con đẻ. Có người có thắc mắc rằng liệu con riêng có quyền được thừa kế di sản do cha dượng/ mẹ kế để lại không? Luật sư sẽ đưa ra câu trả lời trong bài viết dưới đây.
Căn cứ:
  • Luật hôn nhân và gia đình 2014
  • Bộ Luật dân sự 2015
Nội dung tư vấn:

Như chúng ta đã biết, pháp luật dân sự hiện hành quy định có 2 phương thức chia thừa kế. Đó là chia thừa kế theo di chúc và chia thừa kế theo pháp luật. Do đó việc xem xét về quyền thừa kế của con riêng cũng phải dựa vào các quy định của 2 phương thức nêu trên.

1. Trường hợp chia thừa kế theo di chúc

Pháp luật Việt Nam tôn trọng quyền tự định đoạt của cá nhân với tư cách là chủ sở hữu đối với tài sản của họ. Vì vậy, trước khi chết họ có quyền định đoạt tài sản của mình cho ai theo ý chí của họ được thể hiện trong di chúc đã lập. Căn cứ theo Điều 624 quy định thì “Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết.”. Thông qua các bản di chúc hợp pháp, các cơ quan chức năng sẽ công nhận quyền thừa kế tài sản của những người thừa kế theo ý nguyện của người chết.

Như vậy, nếu trường hợp người chết để lại di chúc hợp pháp mà trong nội dung bản di chúc đề cập tới việc chia một phần di sản cho con riêng của người đó. Thì lúc này, người con riêng nghiễm nhiên được hưởng phân thừa kế được người chết chia cho.

2. Trường hợp chia thừa kế theo pháp luật

Thừa kế theo pháp luật là thừa kế theo hàng thừa kế, điều kiện và trình tự thừa kế do pháp luật quy định. Thừa kế theo pháp luật xảy ra khi người chết không để lại di chúc, đó có thể là chết đột ngột hoặc người chết không làm di chúc trước khi chết. Đối với thừa kế theo pháp luật sẽ không có sự thể hiện ý chí của một ai ở đây cả. Mọi người đều có quyền ngang nhau trong việc hưởng di sản thừa kế, không phải người này có nhiều di sản hơn người kia trong một hàng thừa kế mà tất cả được chia bằng nhau và ai cũng có phần và không có sự so sánh thiệt hơn ở đây.

Trong những trường hợp chia thừa kế theo pháp luật, việc đầu tiên đó là xác định những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất. Đây chính là những người sẽ được ưu tiên chia di sản đầu tiên. Căn cứ theo khoản 1 Điều 651 Bộ luật Dân sự năm 2015 đã quy định cụ thể về các hàng thừa kế theo pháp luật bao gồm:  “vợ, chồng, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết”. 

Như vậy nhìn vào quy định trên thì không thấy pháp luật quy định về việc con riêng thuộc hàng thừa kế thứ nhất. Mà chỉ quy định con nuôi thuộc hàng thừa kế thứ nhất mà thôi. Nhưng hãy khoan kết luận rằng con riêng không được hưởng tài sản thừa kế của cha dượng, mẹ kế. Bởi lẽ, căn cứ theo Điều 654 Bộ luật dân sự 2015 quy định như sau:

Điều 654. Quan hệ thừa kế giữa con riêng và bố dượng, mẹ kế

Con riêng và bố dượng, mẹ kế nếu có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như cha con, mẹ con thì được thừa kế di sản của nhau và còn được thừa kế di sản theo quy định tại Điều 652 và Điều 653 của Bộ luật này.

Như vậy, có thể thấy rằng, pháp luật quy định nếu trường hợp con riêng mà có quan hệ chăm sóc nuôi dưỡng với bố dượng, mẹ kế thì sẽ có quyền được hưởng di sản thừa kế theo pháp luật tương tự như đối với những đối tượng được nêu tại Điều 653 quy định về quyền thừa kế của con nuôi nhu sau:

Điều 653. Quan hệ thừa kế giữa con nuôi và cha nuôi, mẹ nuôi và cha đẻ, mẹ đẻ

Con nuôi và cha nuôi, mẹ nuôi được thừa kế di sản của nhau và còn được thừa kế di sản theo quy định tại Điều 651 và Điều 652 của Bộ luật này.

Từ những quy định nêu trên, có thể suy luận rằng con riêng sẽ được quyền hưởng thừa kế trong hàng thừa kế thứ nhất của cha dượng, mẹ kế của vợ/ chồng khi có mối quan hệ thân thiết, có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng thì. Khi cha dượng, mẹ kế chết và có tài sản để lại thì lúc này con riêng sẽ được chia di sản thừa kế ngang bằng với những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất. Thậm chí, nếu trường hợp hàng thừa kế thứ nhất không còn ai khác ngoài con riêng của vợ/chồng thì người con riêng này sẽ được hưởng toàn bộ phần di sản do cha dượng/ mẹ kế để lại.

3. Thế nào là có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng

Yếu tố có quan hệ chăm sóc nuôi dưỡng là căn cứ quan trọng để xác định việc con riêng có được hưởng thừa kế của cha dượng/ mẹ kế theo pháp luật hay không. Để làm rõ vấn đề này, chúng ta sẽ phải đề cập tới những nội dung liên quan trong Luật hôn nhân gia đình. Được coi là có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng là khi con riêng có những việc làm thể hiện tình yêu thương, thực hiện tốt quyền và nghĩa vụ của con cái đối với cha mẹ.

Về quyền và nghĩa vụ của mẹ kế/cha dượng đối với con riêng của chồng/vợ chị được áp dụng khi người con riêng cùng chung sống với mẹ kế, cha dượng. Lúc này, nghĩa vụ đối với con riêng của cha mẹ được thực hiện như đối với còn đẻ, con nuôi. Cụ thể, căn cứ vào Luật Hôn nhân và gia đình thì quyền và nghĩa vụ của mẹ kế, cha dượng đối với con riêng của bên kia gồm:

  • Thương yêu, tôn trọng ý kiến của con: Không được ruồng rẫy, ghét bỏ con riêng mặc dù không cùng huyết thống với mình
  • Trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc việc học hành, giáo dục con: Bằng việc tạo điều kiện thuận lợi cho con được ăn học đàng hoàng, giáo dục con thành công dân tốt.
  • Không được phân biệt đối xử giữa các con: Tình trạng phân biệt, đối xử giữa con đẻ và con riêng là hành vi khá phổ biến. Nên pháp luật có nghiêm cấm hành vi này.

Bên cạnh đó, trường hợp sống chung với cha mẹ thì con riêng cũng phải có nghĩa vụ với mẹ kế/cha dượng như đối với bố mẹ ruột của mình. Cụ thể được quy định tại Điều 70 Luật hôn nhân và gia đình như sau:

Điều 70. Quyền và nghĩa vụ của con
1. Được cha mẹ thương yêu, tôn trọng, thực hiện các quyền, lợi ích hợp pháp về nhân thân và tài sản theo quy định của pháp luật; được học tập và giáo dục; được phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ và đạo đức.
2. Có bổn phận yêu quý, kính trọng, biết ơn, hiếu thảo, phụng dưỡng cha mẹ, giữ gìn danh dự, truyền thống tốt đẹp của gia đình.
3. Con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình thì có quyền sống chung với cha mẹ, được cha mẹ trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc.
Con chưa thành niên tham gia công việc gia đình phù hợp với lứa tuổi và không trái với quy định của pháp luật về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em.
4. Con đã thành niên có quyền tự do lựa chọn nghề nghiệp, nơi cư trú, học tập, nâng cao trình độ văn hóa, chuyên môn, nghiệp vụ; tham gia hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội theo nguyện vọng và khả năng của mình. Khi sống cùng với cha mẹ, con có nghĩa vụ tham gia công việc gia đình, lao động, sản xuất, tạo thu nhập nhằm bảo đảm đời sống chung của gia đình; đóng góp thu nhập vào việc đáp ứng nhu cầu của gia đình phù hợp với khả năng của mình.
5. Được hưởng quyền về tài sản tương xứng với công sức đóng góp vào tài sản của gia đình.

Như vậy, khi xét một mối quan hệ giữa con riêng và cha dượng/ mẹ kế mà đáp ứng được những điều nêu trên thì được coi là có mối quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau và con riêng sẽ có quyền thừa kế.

Hy vọng bài viết hữu ích đối với quy độc giả!
Chiathuake.com là Website trực thuộc của Công ty Luật TNHH LSX (Luật sư X) – là đơn vị cung cấp dịch vụ luật sư thừa kế chuyên nghiệp tại Việt Nam. Vì vậy, hãy liên hệ tới số điện thoại 0969.434.434  khi Quý khách có nhu cầu về dịch vụ!

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Từ khóa: ,