Pháp nhân bị giải thể vào thời điểm mở thừa kế có được hưởng di sản?

Theo quy định tại Bộ luật Dân sự 2015, thừa kế là việc chuyển dịch tài sản của người đã chết cho người còn sống, tài sản để lại được gọi là di sản. Tuy nhiên, các nguyên tắc hưởng thừa kế là gì? Pháp luật quy định như thế nào về người hưởng di sản thừa kế? Trường hợp nào không được hưởng di sản thừa kế? không phải ai cũng thấu hiểu căn kẽ. Trong khuôn khổ bài viết dưới đây, hãy cùng Luật sư X đi tìm đáp án cho câu hỏi: Pháp nhân bị giải thể vào thời điểm mở thừa kế có được hưởng di sản không nhé !

Căn cứ:
  • Bộ luật dân sự 2015
  • Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014
  • Luật Doanh nghiệp 2014.
Nội dung tư vấn

1.Di sản là gì?

Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác. Chỉ có tài sản thuộc chính chủ thì mới có thể đem chia thừa kế. Phần tài sản của người đó trong khối tài sản chung cũng được đem chia thừa kế. Theo đó, di sản thừa kế bao gồm những tài sản sau:

  • Tài sản riêng của người chết: Đây là phần tài sản mà thông thường cá nhân nào cũng có, bởi nó gắn liền với quyền và nghĩa vụ lao động của mỗi cá nhân trong xã hội. Tài sản riêng của người chết được xác định là phần tài sản mà  về  phương diện pháp lí không bị chi phối hoặc phải chịu sự ràng buộc nào đối với các chủ thể khác trong việc chiếm hữu, sử dụng và thực hiện quyền định đoạt. Theo quy định của pháp luật, phần tài sản này được xác định như sau:
    • Độc lập trong sở hữu chung theo phần.
    • Độc lập trong sở hữu chung hợp nhất
  • Tài sản của người chết trong khối tài sản chung hợp nhất của vợ chồng. Tài sản chung của vợ chồng bao gồm:
    • Tài sản do vợ, chồng tạo ra;
    • Thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh;
    • Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng;
    • Thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân;
    • Tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.
    • Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.
    • Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.
    • Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.

Khi một bên chết trước và có yêu cầu chia di sản thừa kế, khối tài sản chung này được chia một nửa thuộc sở hữu của người đang sống, người còn lại được xác định là di sản của người đã chết.

  • Tài sản của người chết trong khối tài sản chung với người khác.

2.Người thừa kế di sản là gì? 

Người thừa kế là người được hưởng di sản mà người chết để lại theo di chúc hoặc theo quy định của pháp luật. Người thừa kế có thể là người được hưởng di sản thừa kế theo di chúc hoặc chỉ có thể hưởng di sản thừa kế theo pháp luật nhưng có thể là người vừa được hưởng di sản thừa kế theo di chúc vừa được hưởng di sản thừa kế theo pháp luật.
Điều 613 Bộ luật dân sự 2015 có quy định về người thừa kế như sau:
Điều 613: Người thừa kế
Người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết. Trường hợp người thừa kế theo di chúc không là cá nhân thì phải tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.
Theo quy định trên, người thừa kế chỉ được di sản thừa kế do người chết để laị khi đáp ứng được yêu cầu của pháp luật.

3. Người thừa kế di sản cần đáp ứng những điều kiện gì?

3.1. Người thừa kế di sản là cá nhân. 
  • Phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế.

Thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản (hay còn gọi là người để lại di sản) chết. Đó là mốc thời gian kể từ thời điểm đó quyền tài sản và nghĩa vụ tài sản của một người ( người để lại di sản) chấm dứt, đồng thời các quyền và nghĩa vụ này được chuyển cho người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật. Thông thường, nếu một người chết mà mọi người đều biết, thì thời điểm người để lại di sản chết là thời điểm người đó chút hơi thở cuối cùng. Căn cứ để xác định thời điểm mở thừa kế là ghi chép trong giấy khai tử về giờ, ngày, tháng, năm người để lại di sản chết.

Việc xác định thời điểm mở thừa kế là rất quan trọng. Kể từ thời điểm đó xác định được chính sác tài sản, quyền, nghĩa vụ về tài sản của người để lại thừa kế gồm những gì và đến khi chia di sản còn bao nhiêu. Thời điểm mở thừa kế là căn cứ xác định những người thừa kế của người đã chết, vì người thừa kế phải là cá nhân còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điêm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết.

Quy định người thừa kế phải là người còn sống tại thời điểm mở thừa kế đã thể hiện ý nghĩa của việc dịch chuyển tài sản của một người đã chết sang cho người còn sống để xác lập quyền sở hữu đối với phần di sản mà họ được hưởng khi người này đã nhận được di sản thừa kế. Dĩ nhiên, thực sự vô nghĩa khi mà tài sản của một người đã chết lại được dịch chuyển cho một người đã chết khác. Hơn thế nữa, khi người có tài sản muốn làm bổn phẩn của mình đối với người được hưởng di sản, đặc biệt là đối với những người thân thích trong gia đình để nối dài quyền sở hữu đối với tài sản.

  • Cá nhân là thai nhi đòi hỏi khi được sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế. Đây là điều kiện đòi hỏi đối với cá nhân trong cả trường hợp thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật. Đối với người thừa kế theo pháp luật cần phải đáp ứng thêm một điều kiện về quan hệ huyết thống giữa cá nhân này với người để lại di sản. Nếu đứa trẻ sinh ra sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết thì đứa trẻ đó được xác định là con của người để lại di sản. Đứa trẻ đó là người thừa kế theo pháp luật của người để lại di sản nếu sinh ra còn sống sau thời điểm mở thừa kế. Điều kiện này không cần phải xác định đối với cá nhân là người thừa kế theo di chúc.
  • Tuy nhiên, có ý kiến lại cho rằng, quy định về thai nhi cần có thêm điều kiện “thành thai khi người để lại di sản còn sống”. Bởi lẽ, trên đà phát triển của khoa học công nghệ, cũng như y học hiện nay, vấn đề sinh con theo phương pháp khoa học đã dần được quan tâm và trở nên phổ biến hơn, đặc biệt là đối với những cặp vợ chồng vô sinh, hiếm muộn và những người phụ nữ độc thân muốn có con. Với phương pháp thụ tinh nhân tạo, có thể xảy ra các trường hợp sau:
    • Đang trong quá trình thụ tinh nhân tạo, thụ tinh trong ống nghiệm, chưa thành thai thì người chồng chết. Tinh trùng trong quá trình thực hiện trên là của người cho tinh trùng, chứ không phải của người chồng. Sau khi người chồng chết, thai nhi được hình thành, đứa bé được sinh ra và còn sống.
    • Người chồng gửi tinh trùng để điều trị vô sinh trong cơ sở lưu giữ, sau đó thì chết. Người vợ đến cơ sở y tế lấy tinh trùng để thụ thai. Đứa bé này sau đó được sinh ra và còn sống.

Về mặt pháp lí, trong những trường hợp này, đều thành thai sau khi người bố – người để lại di sản đã chết nên những đứa trẻ này đều không được coi là người thừa kế di sản trong trường hợp này. Rõ ràng, khi chúng sinh ra, quyền lợi của chúng không được đảm bảo. Xét một cách toàn diện, những đứa trẻ trong tình huống nêu trên theo pháp luật vẫn được coi là con của người bố đã chết đó. Nhưng thực tế lại không thể trở thành người thừa kế của cha chúng. Đây có thể coi là một lỗ hổng, một mâu thuẫn trong các quy định của Bộ luật dân sự và luật chuyên ngành.

3.2.Người thừa kế di sản là tổ chức

Điều kiện bắt buộc là cơ quan tổ chức đó phải vẫn còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế. Trong trường hợp cơ quan, tổ chức được người để lại di sản chỉ định trong di chúc là người thừa kế mà không tồn tại vào thời điểm mở thừa kế (pháp nhân bị phá sản, pháp nhân bị giải thể…) thì sẽ không được hưởng di sản.

3.3.Quyền của người thừa kế.

Khi được xác định là người thừa kế thì từ thời điểm mở thừa kế, những người thừa kế có quyền tài sản của người chết để lại. Cụ thể như sau:

  • Có quyền nhận di sản thừa kế ( theo di chúc hoặc theo pháp luật, hoặc vừa nhận theo phần di chúc, vừa nhận theo phần pháp luật).
  • Có quyền từ chối nhận di sản, trừ khi việc từ chối này nhằm trốn tránh nghĩa vụ tài sản của mình đối với người khác. Từ chối nhận di sản thừa kế là hành vi thể hiện ý chỉ của cá nhân khi được nhận tài sản hợp pháp từ người khác để lại.Việc từ chối nhận di sản phải được lập thành văn bản; người từ chối phải báo cáo cho những người thừa kế khác, người được giao nhiệm vụ phân chia di sản, cơ quan công chứng hoặc Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có địa điểm mở thừa kế về việc từ chối nhận di sản.Thời hạn từ chối nhận di sản là sáu tháng, kể từ ngày mở thừa kế. Sau sáu tháng kể từ ngày mở thừa kế nếu không có từ chối nhận di sản thì được coi là đồng ý nhận thừa kế.
3.4.Trách nhiệm tài sản của người thừa kế.
  • Trong trường hợp không có di chúc, những người thừa kế cùng hàng phải cùng nhau thực hiện những nghĩa vụ mà người chết chưa hoàn thành. Trong đó có nghĩa vụ trả nợ, nghĩa vụ đóng thuế, đòi nợ, nghĩa vụ duy trì hoạt động cơ sở sản xuất, doanh nghiệp…
  • Trong trường hợp có di chúc, người thừa kế sau khi hoàn tất thủ tục khai nhận di sản thừa kế. Phải thực hiện đầy đủ trách nhiệm, nghĩa vụ tài sản của mình theo nội dung di chúc. Cụ thể:
    • Người thừa kế phải có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản do người chết để lại.
    • Nếu di sản chưa được chia, người quản lý tài sản có nghĩa vụ tài sản theo thoả thuận của những người thừa kế.
    • Nghĩa vụ tài sản bắt buộc của người thừa kế không vượt quá phần tài sản mà mình đã nhận.
    • Nhà nước, cơ quan, tổ chức hưởng di sản theo di chúc cũng phải thực hiện nghĩa vụ tài sản

4. Pháp nhân bị giải thể vào thời điểm mở thừa kế có được hưởng di sản?

Theo quy định của pháp luật đã phân tích cụ thể ở trên, nếu vào thời điểm mở thừa kế, mà pháp nhân đó đã bị giải thể, tức đã không còn “tồn tại” theo luật định, thì pháp nhân đó không phải là “người thừa kế” theo quy định tại Bộ luật dân sự 2015, đồng nghĩa với việc không được hưởng di sản thừa kế. Mở rộng ra, không chỉ là bị giải thể, mà tại thời điểm mở thừa kế, công ty đã bị tuyên bố phá sản cũng không được hưởng di sản thừa kế.

Vậy còn, nếu pháp nhân chấm dứt do hợp nhất, sáp nhập, chia tách pháp nhân thì phần di sản đáng lẽ ra pháp nhân có quyền được hưởng sẽ được dịch chuyển như thế nào? Đây là một vấn đề nan giải vẫn đang gặp phải nhiều ý kiến trái chiều trong việc xác định hệ quả của nó. Tuy nhiên, thiết nghĩ, nếu pháp nhân đã bị hợp nhất, sáp nhập, chia tách trước thời điểm mở thừa kế thì pháp nhân này không còn tư cách là người thừa kế nữa.

Hy vọng bài viết hữu ích cho bạn đọc!

Chiathuake.com là Website trực thuộc của Công ty Luật TNHH LSX (Luật sư X) – là đơn vị cung cấp dịch vụ luật sư thừa kế chuyên nghiệp tại Việt Nam. Vì vậy, hãy liên hệ tới số điện thoại 0969.434.434 khi Quý khách có nhu cầu về dịch vụ.

 

 

 

 

 

Từ khóa: , ,